Lá thư Tu học 26.

 

    Stuttgart, 1. 11. 2003.

    Các bạn thân mến,

    Trong một lá thư trước, tôi đă có dịp chia xẻ với các bạn bài "Lại tưởng nữa" của thầy Trí Siêu.

    Lần này tôi muốn giới thiệu với các bạn một cuốn sách mới của Thầy: cuốn "Ư - T́nh - Thân".

    Với một giọng văn trong sáng dễ hiểu, Thầy đă giúp chúng ta hiểu được con đường của tâm ư, dẫn dắt chúng ta qua những bài tập cụ thể để dần dần thoát khỏi những vướng mắc của Ư - T́nh - Thân, chuyển hóa được tập khí phiền năo, để được đi trên đường hạnh phúc.

    Trong những chương đầu, Thầy đă giải nghĩa ba chữ Ư (= ư tưởng, ư niệm, ư kiến...), T́nh (= t́nh cảm vui, buồn, yêu, ghét, ham muốn, lo sợ...) và Thân (= cử chỉ, nói năng, hành động...) và chỉ rơ nguồn gốc của phiền năo là vô minh, chấp ngă (= là chấp cái tôi là thật có và bám víu vào những cái liên quan đến cái tôi như vợ con, nhà cửa, tài sản, danh dự...) . V́ chấp ngă nên chúng ta có vọng tưởng là ư nghĩ sai lầm, là muốn mọi chuyện đều xảy ra theo ư ḿnh. Từ vọng tưởng mới sinh ra vọng t́nh: cái ǵ hợp ư ḿnh th́ ta ham muốn, cái ǵ trái ư th́ ta giận dữ, ghét bỏ. Từ vọng t́nh sinh ra vọng nghiệp: cái ǵ ham muốn th́ t́m đủ mọi cách để đoạt lấy, cái ǵ ghét bỏ th́ nói năng nặng lời.

Trong chương "Vấn đề của Ư", Thầy giúp ta hiểu những cái ǵ mà ta tưởng là sự thật chỉ là những mảnh vụn của thực tại mà không phải là thực tại v́ đă được nh́n qua nhiều lăng kính: với mắt tai ta, được nhuộm tiếp bởi những quan niệm tập tục xă hội, thông qua những kinh nghiệm và những phóng chiếu của bản thân. Do đó ta không nên muốn người khác phải tin và nghe theo ư kiến của ta. Sau đó, Thầy phân tách những vấn đề thuộc t́nh cảm như: tâm lư chiếm hữu, tự ái, thèm khát, ái luyến, nội kết, ôm ấp quá khứ... và những vấn đề của Thân như: già, bệnh tật, nghiệp lực, t́nh dục, nghiện ngập...

    Chương "Con đường chuyển hóa" là chương quan trọng nhất hướng dẫn những bước đi với những thí dụ và các bài tập cụ thể giúp ta biết cách thực hành chuyển hóa phiền năo. Thầy đề nghị sáu giai đoạn:

1. Nhận diện và ghi ra những tánh xấu thường gây cho ḿnh khổ đau.

2. Lựa ra tánh xấu hay làm phiền ḿnh nhất và quyết tâm sửa chữa tánh xấu này trước.

3. Truy t́m ư nghĩ nào đă đưa đến tánh xấu đó.

4. Chuyển Ư: thay thế tư tưởng sai lầm cũ bằng tư tưởng mới.

5. Chuyển T́nh: tập phát triển t́nh cảm, đức tính mới, ngược lại với tánh xấu cũ.

6. Chuyển Thân: thực hiện những lời nói, cử chỉ, hành động tương ưng với ư tưởng mới.

Trong chương "Con đường Đạo", bên cạnh những giới thiệu về cách t́m thầy học đạo, t́m pháp môn thích hợp, Thầy c̣n đề nghị 4 hạnh để tự nhắc nhở ḿnh:

 

Ghi nhận đúng như thật và chấp nhận sự vật như nó là.

 

Không nghĩ xấu kẻ khác.

 

Không nói xấu kẻ khác.

 

Tập làm một điều tốt.

 

    Và chương cuối cùng "Đi t́m hạnh phúc", Thầy đi vào hạnh phúc cá nhân và hạnh phúc vợ chồng. Với hạnh phúc cá nhân, ta cần phải quán chiếu thường xuyên 7 hạnh phúc đang có sẵn trong ta mà trong cuộc sống ta vẫn thường quên lăng. Trong hạnh phúc vợ chồng, Thầy đề nghị 8 điều của "Hiệp ước sống chung" mà những ai muốn chung sống hạnh phúc với nhau nên hứa cùng thực hiện.

 

    Qua một bài giới thiệu ngắn ngủi, tôi không thể nói hết được những cái hay mà tôi đă học được qua đây. Vả lại cái hay nhất là phải tự đi để tự chứng th́ tôi cũng đang mới bắt đầu với những bài tập trong sách. Gửi theo Lá thư Tu học lần này là chương ""Đi t́m hạnh phúc", tôi mong được chia xẻ với các bạn một vài cái đẹp trong sách này. Tôi đề nghị các bạn nên thỉnh cuốn sách này làm bạn đồng hành trên con đường tu tập. Địa chỉ liên lạc bạn có thể t́m thấy trên Website http://www.phapviet.com/~trisieu

 

    Thân chào,

    Chân Đức Quang.

 


 

Đi t́m hạnh phúc.

 

Thích Trí Siêu.

 

Hạnh phúc là ǵ?

 

Là người ai cũng muốn sung sướng, hạnh phúc, nhưng hạnh phúc là ǵ th́ khó mà trả lời chính xác v́ nó tùy quan niệm và tŕnh độ tiến hóa của mỗi người.

 

Đối với người nghèo th́ tiền của là hạnh phúc. Đang đói mà có cơm ăn là hạnh phúc. Cô đơn mà có người thương là hạnh phúc.

 

Đối với đa số quần chúng th́ hạnh phúc là thỏa măn những nhu cầu vật chất, thể xác như ăn uống, t́nh dục, vợ đẹp con ngoan, nhà cửa tài sản.

 

Sau khi đạt được những nhu cầu vật chất th́ hạnh phúc là thỏa măn nhu cầu danh vọng, địa vị, quyền hành như giám đốc, tỉnh trưởng, bộ trưởng, thủ tướng, tổng thống, v.v...

 

Trên phương diện tương đối ta có thể định nghĩa hạnh phúc là khi những nhu cầu thèm khát được thỏa măn. Nhưng sự thèm khát của con người không bao giờ chấm dứt. Khi chưa có th́ thèm muốn có, khi có rồi th́ sợ mất, hoặc nếu không th́ lại thèm muốn cái khác. Do đó cái hạnh phúc mà người thế gian theo đuổi chỉ là một ảo tưởng, tưởng nắm bắt được nhưng trong thoáng giây nó lại tuột mất và phải chạy đi t́m nữa.

 

Hạnh phúc tương đối.

 

Gọi là tương đối v́ loại hạnh phúc này mong manh tạm bợ.

 

Tiến tŕnh hạnh phúc:

 

• Ban đầu Ư khởi ham muốn, thèm khát một điều ǵ đó (désir) • Khi đạt được điều ham muốn thi sung sướng, khoái lạc (plaisir) • Tiếp theo phải ư thức là ḿnh đă đạt được điều đó th́ mới có hạnh phúc (bonheur).

 

Ở gian đoạn một, ta là người thiếu thốn khi tâm khởi lên tham muốn. Sang giai đoạn hai, ta là người sung sướng nhưng không khéo có thể rơi trở về giai đoạn một nếu thiếu ư thức. Giai đoạn ba, ta là người có hạnh phúc, ư thức càng nhiều th́ hạnh phúc càng lâu.

 

Thí dụ khi đau răng, ta ch́ thèm muốn làm sao cho hết đau răng là sung sướng lắm. Thời nay không phải mới đau răng là có thể chạy ngay tới pḥng mạch nha sĩ, mà phải lấy hẹn trước ít nhất một, hai ngày. Đến khi được nha sĩ chữa hết đau răng, ta thở phào sung sướng. Nhưng vừa hết đau răng, chưa kịp thưởng thức sự sung sướng đó th́ ta nghĩ ngay tới việc ăn uống, không biết lát nữa đi ăn nhà hàng nào ngon để bù lại mấy ngày qua. Khi đau răng ta cầu "hạnh phúc hết đau răng", nhưng khi hết đau răng th́ không thấy hạnh phúc mà lại tiếp tục thèm muốn cái khác. Ta đă để "hạnh phúc hết đau răng" tuột ngay khỏi tầm tay.

 

Hồi trước c̣n nghèo, đi làm phải đi xe đạp hoặc xe công cộng nên tôi thèm có chiếc xe hơi, nếu có được xe hơi th́ tôi sung sướng lắm. Sau này làm ăn khá giả, có tiền mua được xe hơi, mỗi ngày lái xe hơi đi làm, ư thức được ḿnh may mắn hơn nhiều người khác nên tôi cảm thấy rất hạnh phúc. Ngày nào tôi c̣n nhớ ( niệm) và ư thức ( tỉnh giác) được như vậy th́ ngày đó tôi c̣n tiếp tục hưởng cái "hạnh phúc có xe hơi".

 

Hạnh phúc luôn luôn là hạnh phúc về cái ǵ? Hạnh phúc không có tự tánh, không thể tự nhiên mà có. Hạnh phúc lâu bền hay ngắn ngủi tùy theo ta ư thức nhiều hay ít.

 

Hạnh phúc một ḿnh.

 

Chúng ta thường đi t́m một cái ǵ bên ngoài để mang lại cho ḿnh hạnh phúc như vật chất, nhà cửa, xe hơi, máy móc, tiện nghi,... hoặc t́nh cảm gia đ́nh, thân quyến, bạn bè, người yêu,... hoặc danh vọng, địa vị, lư tưởng. Ta khát khao t́m kiếm v́ tưởng ḿnh nghèo nàn, thiếu thốn, tâm luôn phóng ra ngoài chạy theo trần cảnh. Trong kinh Pháp Hoa kể thí dụ đứa cùng tử suốt đời đi ăn xin v́ không biết trong túi ḿnh có viên ngọc quí, đến khi được người bạn nhắc tỉnh ngộ lấy ngọc ra xài liền hết đói khổ.

 

Bài quán chiếu dưới đây nhắc bạn nhớ lại những viên ngọc quí mà bạn đă có, chỉ cần lấy ra dùng là sẽ có hạnh phúc.

 

Quán chiếu hạnh phúc: Sau đây là 7 điều quán chiếu hạnh phúc:

 

1. Ta đang c̣n sống 2. Ta có sức khỏe 3. Ta có đủ sáu căn 4. Ta có tự do 5. Ta có tiện nghi vật chất 6. Ta có t́nh thương 7. Ta có sự hiểu biết Ta đang c̣n sống.

 

Trên đời này quí nhất là sự sống . Tất cả sinh vật từ côn trùng, sâu bọ , thú vật cho đến con người, loài nào cũng tham sống sợ chết. Giả sử bây giờ phải lựa chọn giữa trúng số dộc đắc mà chết và sạt nghiệp mà sống th́ bạn sẽ lựa cái nào? Ở đời ai cũng lo đi t́m tiền của, nhưng thật ra tiền của chỉ để bảo đảm sự sống an toàn, tiện nghi. Có nhiều người giàu sang sẵn sàng chi hết tiển của để cứu lấy mạng sống. Như thế đủ thấy sự sống quư hơn tiền bạc, quư hơn gấp trăm ngàn, triệu ngàn lần. Ngay cả một tỉ đô la cũng không mua nổi mạng sống khi bị bệnh ung thư hay sida(aids). Vậy mà sáng nay mở mắt thức dậy c̣n sống, bạn có thấy ḿnh hạnh phúc không?

 

Mỗi khi cảm thấy khổ đau, chán nản hay tuyệt vọng th́ hăy nhớ lại ta đang c̣n sống đây. C̣n sống th́ c̣n tất cả.

 

Ta có sức khỏe.

 

Sự sống quí nhất trên đời, sức khỏe quí nhất trong sự sống. Có sức khỏe không có nghĩa là phải khỏe như lực sĩ thế vận hội mà chỉ cần không đau nhức, bệnh hoạn, không có bệnh trầm kha, nan y, v.v... Ở đời mấy ai tránh khỏi bệnh tật, không bệnh này th́ bệnh nọ. Bệnh nặng như ung thư hay sida phải có thuốc giảm đau như morphine mới chịu nổi, nếu không th́ đau đớn rên siết như bị hành h́nh ở địa ngục. Bệnh nhẹ như cảm cúm, sổ mũi, nhức đầu cũng làm ta mệt mỏi, khó thở, đau nhức. Mỗi khi khỏe mạnh, không bệnh hoạn th́ ta hăy mừng rỡ ư thức đó là một hạnh phúc. Có nhiều tiền mà bệnh hoạn liên miên, ăn không được, ngủ không yên, hết nằm nhà thương này đến nhà thương nọ, có tiền như vậy đâu có sướng!

 

Mỗi khi cảm thấy khổ đau, chán nản hay tuyệt vọng th́ hăy nhớ lại ta đang c̣n sức khỏe đây.

 

C̣n sức khỏe th́ c̣n làm được tất cả.

 

3. Ta có đủ sáu căn. (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư) Có người đầy đủ sức khỏe nhưng lại bị mù, điếc, hoặc câm, què, tàn tật, v.v... Những người này dù có tiền, có sức cũng đâu sung sướng ǵ! Bạn có thể tưởng tượng nếu bây giờ bị mù th́ bạn sẽ ra sao? Chỉ cần nhắm mắt lại trong năm, mười phút đi tới đi lui trong nhà ḿnh xem.

 

Bạn có thể hiểu được nỗi khổ của người mù không? Vậy mà bạn đang c̣n đôi mắt sáng thấy được trời xanh, mây trắng, tai nghe được chim hót, nhạc hay, mũi ngửi được mùi cơm thơm, miệng nói năng được với người thương, thân không què quặt, tâm không điên loạn. Như vậy c̣n đ̣i hỏi ǵ hơn? Chỉ cần mất đi một căn thôi đời bạn sẽ mất đi nhiều ư nghĩa.

 

Dù ở trong cảnh khổ nào đi nữa, nhớ lại ḿnh c̣n nguyên vẹn sáu căn cũng đủ an ủi và xóa tan đi mọi niềm đau.

 

4. Ta có tự do.

 

Tự do ở đây là không bị tù đày chứ không có nghĩa chính trị hay tôn giáo. Bởi v́ theo giáo lư, tất cả chúng ta đều là tù nhân của ba cơi sáu đựng. Chỉ khi nào thoát khỏi sinh tử luân hồi mới thực sự là tự do.

 

Hiện tại bạn có dang ở tù không? Có đang bị trói buộc, xiềng xích không? Có ai cấm bạn đi đứng, nói năng, ăn uống không? Có ai đánh đập theo dơi kiểm soát bạn không? Bạn có biết đời sống trong tù ra sao không? Dù đó là tù ở Pháp, ở Mỹ? Có thể bạn nghĩ tù ở các xứ văn minh, giàu có th́ sướng hơn ở xứ nghèo chăng? Ở Mỹ nhân viên cai tù không hành hạ tù nhân nhưng ch́nh những người tù đánh đập, áp bức, hiếp dâm lẫn nhau rất dă man.

 

Ngay bây giờ nh́n lại, bạn có thấy ḿnh được tự do đi đứng nói năng không? Nhớ ai th́ lên xe rồ máy đi thăm, thèm ăn món ǵ th́ ra chợ mua hoặc đi nhà hàng, v.v... Có biết bao người đang bị tù đày khổ sở, trong đầu chỉ ao ước được tự do như bạn là họ sung sướng lắm. Vậy mà đang sống tự do, bạn có cảm thấy hạnh phúc không? Nếu không, th́ bạn hăy ư thức và nhớ lại đi, đừng để khi mất tự do rồi mới mơ ước th́ quá muộn.

 

5. Ta có tiện nghi vật chất.

 

Tiện nghi vật chất không hẳn là nhà cao cửa rộng, xe hơi, ti vi, tủ lạnh, máy giặt, máy rửa, máy rửa chén, v.v... Tiện nghi ở đây là những thứ căn bản mà phần đông chúng ta đều có, đó là cơm ăn, áo mặc, chỗ ở che mưa nắng, không phải đi ăn xin, ngủ đầu đường xó chợ. Nhiều người ở Việt nam vẫn tưởng rằng sống ở Pháp hay Mỹ ___________chắc sướng lắm v́ đầy đủ tiện nghi, họ đâu biết là ở đâu cũng có kẻ giàu người nghèo. Ngay ở Paris, thủ đô ánh sáng, hàng ngày vẫn có nhiều ngựi ăn xin vô gia cư, tiếng Pháp gọi là SDF (sans domicile fixe), ngửa tay đi xin tiền trong xe điện ngầm (métro), tối đến họ chui vào những gầm cầu thang để ngủ. Nh́n lên chẳng bằng ai, nhưng nh́n xuống th́ ta vẫn c̣n may mắn hơn nhiều người. Hăy nh́n lại hoàn cảnh của ḿnh, bạn có đói đến nỗi thiếu ăn không? Có nghèo đến nỗi không c̣n mảnh vải che thân?

 

Nếu chưa đến nỗi như vậy th́ bạn hăy xem là ḿnh đầy đủ. Khi tâm biết đủ (tri túc) th́ bao nhiêu cũng đủ, khi tâm tham muốn đ̣i hỏi th́ bao nhiêu cũng không đủ. Người biết đủ là người giàu có hạnh phúc v́ không thấy thiếu thốn, người tham lam keo kiệt dù có nhiều tiền vẫn là người nghèo v́ không bao giờ thấy đủ.

 

6. Ta có t́nh thương.

 

Nhiều người khổ sở v́ cảm thấy cô đơn, không có ai thương ḿnh hết. Không có ai thương ḿnh bởi v́ ḿnh đâu có thương ai. Khi trong ḷng ta tràn đầy t́nh thương th́ tự nhiên nó tỏa ra và mọi người sẽ t́m đến. Giống như mùa xuân hoa nở thơm ngát th́ tự động ong bướm bay tới xung quanh. Ai cũng có một trái tim, tiếng Hán là tâm, bản chất của tâm (tim) là thương yêu.

 

Ta có dư t́nh thương cho chính ḿnh và cho kẻ khác. Chỉ cần nhớ lại ḿnh có trái tim thương yêu và đem ra xử dụng. Nếu chưa nhớ th́ bạn hăy thực tập phép quán từ bi ở phần trước.

 

Hiện tại bạn có ai là người thân thương không? Có cha mẹ, anh em, vợ con, bạn bè không? Có ai đang thương và lo lắng cho bạn không? Có t́nh thương, biết thương và được thương là một hạnh phúc lớn nhất trên cơi đời này.

 

7. Ta có sự hiểu biết.

 

Hiểu biết ở đây là hiểu biết đạo lư chứ không phải kiến thức, bằng cấp. Không kể người khùng điên mất trí, hoặc bị bệnh tâm thần mà ngay cả những người b́nh thường cũng chưa chắc có sự hiểu biết về nhân quả và đạo đức. Đầu óc ta c̣n sáng suốt, không điên khùng mất trí, lại gặp được Phật pháp, học hiểu giáo lư giải thoát, đó là một duyên lành hy hữu trăm ngàn muôn kiếp khó gặp được.

 

Ngoài ra nếu là Phật tử, ta có thể quán chiếu thêm như sau:

 

Thật may mắn hạnh phúc cho ta mỗi ngày được tụng kinh, ngồi thiền, niệm Phật, tŕ chú, đó là việc làm đầy ư nghĩa và lợi ích nhất trong ngày v́ nó giúp ta giải thoát. C̣n bao nhiêu việc khác như đi làm kiếm tiền, ăn uống, ngủ nghỉ, vui chơi, hưởng thụ, v.v... đều là tạo nghiệp và gây thêm phiền năo.

 

Nếu quán chiếu những điều trên chưa đủ để cho bạn hạnh phúc th́ bạn cần phải "hạ sơn" đi vào cuộc đời để tiếp xúc với người sắp chết, người bệnh để thấy họ khổ ra sao, tiếp xúc với người tàn tật, người tù, người ăn xin, người cô đơn, người ngu cố chấp th́ may ra nó sẽ giúp bạn tỉnh ngộ thấy ḿnh hạnh phúc.

 

Hạnh phúc hai ḿnh.

 

Hạnh phúc hai ḿnh là đi t́m và xây dựng hạnh phúc chung với người khác. Chắc khỏi nói bạn cũng đoán được hạnh phúc hai ḿnh khó hơn hạnh phúc một ḿnh. Lớn lên ai cũng đi t́m một người để thương và sống chung, nói cách khác là lập gia đ́nh. Mỗi khi có đám cưới, người ta thường chúc cô dâu chú rể trăm năm hạnh phúc, long phụng cầm sắt, v.v... Nhưng tôi sẽ nói cho họ biết là họ đang đi vào con đường bất hạnh chứ không phải hạnh phúc v́ họ sẽ nếm mùi: đ̣i hỏi, trông chờ, lên án, trách móc, đổ lỗi, giận hờn, bất măn, buồn tủi, thất vọng, v.v...

 

Gia đ́nh là nơi bao nhiêu oan gia tụ hội lại với nhau, đội lốt vợ chồng, con cái để thanh toán nợ ân oán, vay nghiệp trả nghiệp, oán tắng hội, ái biệt ly, cầu bất đắc.

 

Bàn về hạnh phúc gia đ́nh thật là một việc vạn bất đắc dĩ , v́ sao? V́ nếu tự ḿnh có hạnh phúc rồi th́ đâu cần phải đi t́m ai. Và nếu tự ḿnh không có hạnh phúc mà mong cầu người khác cho ḿnh th́ rất khó được v́ nền tảng của sự t́m cầu là vô minh, ích kỷ, thèm khát, lợi dụng.

 

Chúng ta đi t́m một người yêu để làm ǵ? Phải chăng để đáp ứng những nhu cầu, ao ước, thèm khát về vật chất, t́nh cảm, t́nh dục, sinh lư? Khởi đầu ta là người thiếu thốn mong chờ đ̣i hỏi người kia thỏa măn cho ta giống như oan gia đi đ̣i nợ vậy. Không duyên nợ, không oan trái th́ không thành vợ chồng, mà có oan trái th́ làm sao hạnh phúc được?

 

T́nh đ̣i.

 

Vợ chồng anh Hai, hồi mới cưới rất thương yêu và chiều chuộng nhau, nhưng sau hơn 30 năm chung sống, bây giờ hai người rất khổ sở phải chịu đựng nhau. Anh Hai không biết để ư nói chuyện, thăm hỏi, săn sóc vợ con mà chỉ biết đi làm kiếm tiền thôi. Anh coi đó như xong bổn phận của ḿnh và muốn vợ ở nhà phải trông nom cơm nước, hầu hạ anh đầy đủ. Anh lại có thêm tính nóng nảy hay gắt gỏng, la lối vợ con. Thời buổi khó khăn, v́ lương của chồng không đủ nuôi gia đ́nh nên chị Hai cũng phải đi làm kiếm tiền. Vừa đi làm cực nhọc mà vẫn phải tiếp tục lo cơm nước cho chồng con nên chị Hai rất vất vả. Trong khi đó anh Hai quen thói cũ của người Á dông, "chồng chúa vợ tôi", đi làm về ngồi coi ti-vi chờ cơm nước dọn sẵn, ăn xong không biết phụ giúp dọn dẹp công việc nhà nên chị Hai rất bất măn và chán nản.

 

Vào dịp lễ Vu Lan đến chùa được nghe thầy thuyết pháp, chị Hai thấy thấm thía. Từ đó chị lui tới chùa thường xuyên để làm công quả, học đạo và lấy đó làm nguồn an ủi. Thấy vợ hay đi chùa, anh Hai tưởng vợ không c̣n thương và lo lắng cho ḿnh như trước, nên anh bực bội, khó chịu. Hễ có cơ hội là nói bóng nói gió, chỉ trích tôn giáo là mê tín dị đoan, dụ dỗ đàn bà, con nít và tệ hơn nữa, anh trở nên ghét chùa, nhà thờ và các thầy tu v́ anh nghĩ họ đă dụ dỗ vợ anh.

 

Nhưng anh không ngờ chính anh mới là thủ phạm làm cho vợ anh xa lánh. Anh không biết thương yêu săn sóc vợ ḿnh đúng nghĩa, anh chỉ biết ích kỷ, muốn vợ thương và lo cho ḿnh anh thôi, không được để ư tới bất cứ việc ǵ khác.

 

Là đàn ông, khi mới cưới vợ hay đi t́m người yêu, chúng ta ít có khái niệm rơ ràng, chín chắn về vai tṛ của người vợ cũng như những ước muốn thầm kín, sâu xa trong tâm thức ḿnh. Phần đông chúng ta cưới vợ để thỏa măn nhu cầu t́nh cảm, sinh lư, để vợ thay thế mẹ tiếp tục săn sóc cho ta; để có người bạn tâm sự, lấp vá cô đơn, hoặc để có người nhơng nhẽo với ta hoặc để có người cho ta chiều chuộng, o bế, v.v...

 

Trong kinh" Các Người Vợ" đức Phật có giảng về bảy loại vợ để răn dạy nàng Sujata, con dâu của ông Cấp Cô Độc. Cô này ỷ vào sự giàu có của cha mẹ ḿnh nên vô lễ, không cung kính cha mẹ chồng, hống hách và thô lỗ đối với chồng.

 

Bảy loại vợ gồm có:

 

1. Vợ như kẻ sát nhân: tâm địa hiểm độc, không chung thủy trong hôn nhân, bỏ rơi và khinh bỉ chồng, tính t́nh háo sát.

 

2. Vợ như kẻ ăn trộm: tiêu xài hoang phí và làm suy sụp tài sản của chồng.

 

3. Vợ như chủ nhân: lười biếng, hỗn xược, thô tháo, đàn áp và sai khiến chồng.

 

4. Vợ như mẹ: thương yêu chăm sóc, giúp đỡ chồng, biết cách giữ ǵn và làm giàu tài sản của chồng như một người mẹ lo lắng cho con cái.

 

5. Vợ như em: thùy mị, khiêm tốn, biết tôn trọng, kính nể, tùy thuận chồng như đối với người anh trong gia đ́nh.

 

6. Vợ như bạn: niềm nở, vui vẻ, ḥa thuận, cư xử b́nh đẳng và thủy chung với chồng như người bạn tốt.

 

7. Vợ như nữ tỳ: mềm mỏng, nhẫn nhục, không sân hận hay giận dỗi. Dù bị chồng đối xử không đẹp nhưng vẫn nhường nhịn không tỏ thái độ lỗ măng. Biết phục vụ và phục tùng: chồng như đầy tớ đối với chủ.

 

Phật dạy ba loại vợ đầu là loại vợ bất hảo, bốn loại vợ sau là đáng tôn kính và học hỏi v́ họ tạo hạnh phúc cho gia đ́nh và con cái.

 

Tới đây không biết bạn đọc muốn có vợ loại nào? Một lần nọ có dịp nói về Kinh Bảy Loại Vợ với Gia Đ́nh Phật Tử, tôi hỏi mấy anh em thích loại vợ nào? Phần đông trả lời là thích loại vợ như em và loại vợ như bạn. Một số ít thích loại vợ như mẹ hoặc như nữ tỳ. Có lẽ v́ chữ nữ tỳ nghe như _người ở, trong khi thời nay nam nữ b́nh quyền, nên các thanh ńên không thích lắm. Thật ra sự việc không đơn giản như vậy. Tâm lư con người rất phức tạp. Có lúc ta muốn có vợ như mẹ để săn sóc cho ḿnh. Có lúc lại muốn vợ như em để tuân phục, nghe lời ḿnh. Có lúc muốn vợ như bạn để vui choi, giải trí, tâm sự. Có lúc muốn vợ như nữ tỳ để nâng niu, hầu hạ, chiều chuộng ḿnh. Ta có thể nói là một người đàn ông cần hết cả bốn loại vợ này, nhưng t́m đâu ra một người vợ có cả bốn đức tính như vậy?

 

Chị Hai săn sóc, lo lắng cơm nước chu đáo cho chồng như một người mẹ, nhưng chị lại không biết đi chơi, ăn diện nên anh Hai không mấy hài ḷng. V́ anh luôn gắt gỏng, chỉ trích nên chị Hai không dám thỏ thẻ tâm sự ǵ với anh, nên anh cảm thấy vợ như lơ là với ḿnh. Anh cần một người vợ như bạn. Anh Hai tim mọi cách ngăn cản, không muốn chị đi chùa, lễ Phật, nghe pháp, nhưng chị thấy vô lư và ích kỷ nên không nghe lời làm anh bực tức. Anh muốn vợ phải biết tuân lời anh như một nữ tỳ. Muốn như vậy nhưng anh quên trở về xét ḿnh là loại chồng nào đối với vợ. Anh có biết thương vợ ḿnh như một người cha, một người anh hay một người bạn không?

 

8 Trong sự liên hệ t́nh cảm hay t́nh yêu, phần đông chúng ta không biết ban phát, chia xẻ, thông cảm mà chỉ biết đ̣i hỏi, trông chờ, hưởng thụ. Do đó t́nh cảm của chúng ta là t́nh đ̣i, t́nh khát, không bao giờ được thỏa măn mà chỉ gây khổ cho nhau.

 

Hiệp ước sống chung.

 

Người ta cứ tưởng yêu nhau là đủ sống hạnh phúc trong "một túp lều tranh hai trái tim vàng".

 

T́nh yêu là động cơ thu hút hai người lại với nhau, nhưng nếu không biết cách sống th́ nó sẽ phai nhạt và biến thành t́nh sầu hay t́nh hận.

 

Ở Tây phương khi hai người mới cưới nhau họ thường làm một tờ giao kèo(contrat de mariage) ghi rơ tài sản của mỗi người để riêng hay hợp chung lại, pḥng khi bất trắc ly dị th́ dễ giải quyết. Tờ giao kèo này chỉ cam kết về tài sản chứ không bảo đảm hạnh phúc gia đ́nh. Muốn gia đ́nh hạnh phúc ta nên làm một tờ giao kèo tương tự như vậy nhưng trong đó hai người cam kết, giao ước với nhau sẽ làm những ǵ để sống hạnh phúc.

 

Trong Kinh Thiện Sinh (Singalovadasutta) có nêu ra năm điều của chồng đối với vợ như sau:

 

1. lấy lễ đối đăi với nhau.

 

2. oai nghiêm đĩnh đạc.

 

3. ăn mặc phải thời.

 

4. trang sức phải thời.

 

5. phó thác việc nhà.

 

Vợ cũng lấy năm việc cung kính chồng:

 

1. dậy th́ dậy trước.

 

2. ngồi th́ ngồi sau.

 

3. nói lời ḥa nhă.

 

4. kính nhường tùy thuận.

 

5. sớm lănh ư chồng.

 

Những điều dạy này rất tốt trong bối cảnh một xă hội xa xưa nhưng có lẽ không mấy thích hợp với xă hội hiện đại nên tôi dựa vào tinh thần lục ḥa, đề nghị tám điều mà những ai muốn sống chung hạnh phúc nên hứa thục hiện với nhau. Lục ḥa là sáu nguyên tắc sống chung ḥa hợp của tăng đoàn gồm: thân ḥa đồng trụ, khẩu ḥa vô tranh, ư ḥa đồng duyệt, kiến ḥa đồng giải, giới ḥa đồng tu và lợi ḥa đồng quân.

 

1. Truyền thông.

 

Sống chung mà mạnh ai nấy sống, không ai nói chuyện với ai th́ sớm muộn ǵ cũng tan ră. Mục đích của truyền thông là làm cho hai bên hiểu và thông cảm lẫn nhau. Muốn vậy th́ phải biết nói và biết nghe. Nhưng nói những ǵ? Và nghe làm sao? Nhiều người nói suốt ngày nhưng toàn nói những chuyện vô ích, chuyện trên trời dưới đất, chuyện thị phi, tốt xấu của người khác, c̣n chuyện t́nh cảm quan trọng th́ không biết nói. Suốt ngày nghe nhạc, coi ti-vi, đi xinê, kiếm chuyện giải trí, chạy theo sự ồn ào náo động bên ngoài để lấp vá sự trống vắng trong tâm hồn nhưng lại không biết lắng nghe người thương của ḿnh tâm sự. Chúng ta cần phải can đảm bày tỏ ư kiến, ư nghĩ, t́nh cảm, nội kết của ḿnh cho người kia hiểu, không nên lặng lẽ âm thầm chịu đựng khổ đau một ḿnh.

 

Điều lầm lỗi chúng ta hay phạm là " suy bụng ta ra bụng người ", cứ tưởng ḿnh biết người kia và đinh ninh người kia cũng biết ư ḿnh. Nhưng thật ra ta không bao giờ biết được người kia nghĩ ǵ hay muốn ǵ và người kia cũng không thể biết được ta thực sự muốn ǵ v́ mỗi người có một thế giới nội tâm riêng. Nhiều khi cùng nói một chữ nhưng mỗi người lại hiểu khác nhau. Có nhiều điều ta không bao giờ nói hay tiết lộ cho người thương của ḿnh biết v́ ngại (sợ) hoặc không biết nói làm sao. Những điều "thầm kín không nói" lâu ngày trở nên một hố thẳm ngăn cách, làm đôi bên trở nên dè dặt không tin tưởng lẫn nhau.

 

9 Muốn tránh " suy bụng ta ra bụng người " ta phải tập để ư quan sát t́m hiểu, tập nói thẳng không ṿng vo tam quốc hay nói bóng nói gió. Đa số những chuyện buồn giận đều do hiểu lầm, không nói hoặc nói không rơ. Khi thương cũng như khi buồn đều cần bày tỏ nói ra với ái ngữ và chánh ngữ để thông cảm lẫn nhau (khẩu ḥa) không nên để trong bụng, sinh ra nội kết.

 

2. Tương trợ.

 

Biết ưu điểm và khuyết điểm của nhau để bổ xung và giúp đỡ nhau. Khi mới yêu, ai cũng phô trương cái hay cái đẹp của ḿnh c̣n cái xấu dở th́ dấu đi. Sau khi ở chung, những cái xấu kia mới ḷi ra và lúc dó bất măn buồn bực. Nhân vô thập toàn, ai cũng có ưu điểm và khuyết điểm, điều quan trọng là biết chấp nhận và nâng đỡ nhau. Thí dụ chồng có sức khỏe làm việc nặng nhọc nhưng không có tài giao thiệp, vợ th́ đảm đang khéo ăn nói, mỗi khi cần giao thiệp với người ngoài th́ vợ nên thay thế chồng. Bồng em th́ khỏi nấu cơm, nấu cơm th́ khỏi bồng em.

 

Phần này tương đương với thân ḥa.

 

3. Chung thủy.

 

Cam kết trung thành với nhau, không lừa dối, ngoại t́nh, v.v... Đây chính là giới thứ ba trong năm giới căn bản của người Phật tử: giới không tà dâm (giới ḥa dồng tu) 4. Thương yêu.

 

Không nên lầm lẫn thương yêu với ái luyến. Thương yêu là mong muốn người kia được an vui hạnh phúc, biết chấp nhận người kia như họ là. T́nh thương thực sự phải giống như t́nh mẹ thương con, dù con đẹp hay xấu, khôn hay dại, người mẹ đều thương, chấp nhận và không bao giờ bỏ con. Đây là t́nh thương vô điều kiện, có thể gọi là tu giới từ bi.

 

5. Tôn trọng.

 

Tôn trọng tự do, không gian và nhân tính của người thương. Không nên kiểm soát, điều khiển, biến người kia thành nô lệ phải tuân theo ư của ḿnh. Bạn có muốn được thương như chim nhốt trong lồng hay được tự do bay nhảy ngoài trời? Thương nhau th́ phải tôn trọng không gian của nhau, không xâm lấn, đàn áp, giành giật (thân ḥa đồng trụ).

 

6. Biết hỏi và chấp nhận.

 

Mỗi khi muốn diều ǵ th́ phải can đảm bày tỏ, hỏi xin, yêu cầu và biết tôn trọng, chấp nhận sự đáp ứng của người kia. Thí dụ chồng muốn đi xi nê nhưng không biết vợ có thích không? Tốt nhất là bày tỏ ư muốn của ḿnh, nếu vợ thích th́ cùng đi, nếu vợ không thích v́ một lư do ǵ đó th́ chồng không nên nài ép hoặc giận dỗi. Đây là ư ḥa đồng duyệt.

 

7. Chia xẻ.

 

Chia xẻ với nhau về ư kiến t́nh cảm, vật chất, không thủ lợi, ích kỷ. Cho phép và chấp nhận người kia đi vào cuộc đời của ḿnh, t́m hiểu ḿnh, không dấu diếm. Phần này bao gồm lợi ḥa và ư ḥa.

 

8. Cởi mở, làm mới.

 

Sống chung một thời gian, không ai tránh khỏi nhàm chán, buồn tẻ v́ bận làm ăn, lo cho con cái, không có th́ giờ vui chơi giải trí như hồi mới quen nhau. Do đó, cần phải biết cởi mở, làm sống lại tánh hồn nhiên, dễ thương, thông cảm của thuở ban đầu.

 

10 Mỗi người ngồi xuống thành thật viết ra những khía cạnh đáng yêu và đáng ghét của bao năm sống chung rồi trao đổi với nhau. Kế đó cùng bàn luận và ghi ra những giải pháp thích nghi ngơ hầu đáp ứng được ước muốn chung của hai người. Đây là kiến ḥa đồng giải.

 

Điều quan trọng không phải lúc nào cũng làm đẹp ḷng nhau mà là khả năng giải tỏa sự bất ḥa. Có những cặp vợ chồng không bao giời gây sự căi nhau, bề ngoài có vẻ hạnh phúc nhưng bên trong lạnh lùng tẻ nhạt, họ không làm to chuyện bởi v́ mỗi người chỉ muốn sống yên thân qua ngày. Ngược lại có những cặp vợ chồng phải trải qua nhiều sóng gió nhưng hiểu và thương nhau nhiều hơn.

 

Hạnh phúc hai ḿnh cần được xây dựng và duy tŕ, chứ không phải đợi ngườ___________i kia ban cho ta hạnh phúc. Nếu chờ đợi người kia cho ta, chiều ư ta th́ đó không phải là t́nh yêu mà là t́nh đ̣i, t́nh nợ, hai bên đ̣i qua đ̣i lại, không ai biết cho, biết hiểu để cuối cùng thành t́nh sầu, t́nh hận, thành oan gia, kiếp sau đi t́m nhau thanh toán tiếp nợ ân oán.

 

Thực tập:

 

Lâu lâu hai người ngồi xuống và kiểm lại xem:

 

• Ta có biết thuơng yêu thật sự là ǵ không?

 

• Ta đă làm ǵ để biểu lộ t́nh yêu?

 

• Cách thương của ta làm cho người kia hạnh phúc hay khó chịu?

 

• Ta có đóng góp ǵ cho hạnh phúc hay chỉ biết thụ hưởng, lợi dụng?

 

• Nếu sống chung mà không hạnh phúc th́ ta cần phải làm ǵ?

 

Hăy thương như là.

 

Người kia như thế nào th́ ta thương họ như thế nấy, đó gọi là thương người kia như họ là (aimer l´autre comme il est). Cách nói này có vẻ mới lạ, không đúng với văn phạm tiếng Việt v́ nó thiếu một túc từ sau chữ là. Nhưng tôi mong độc giả sẽ làm quen dần với lối nói này.

 

Trước khi biết thương yêu và chấp nhận người khác như họ là th́ ta phải biết thương yêu và chấp nhận ḿnh, chấp nhận những cái xấu cũng như cái đẹp. Nếu tôi lùn và mũi tẹt th́ tôi biết thương cái lùn và mũi tẹt của ḿnh, không cần phải mang giầy cao gót hoặc đi sửa mũi để biến thành người đẹp th́ tôi mới thương ḿnh được. Nếu tôi là công nhân th́ tôi cho người kia biết tôi là công nhân, không cần giả bộ nói dối ḿnh là chủ hăng để chinh phục người đẹp. Nếu tôi là ổi mà giả bộ làm mít th́ trước sau ǵ cũng bại lộ. Khi biết thương ḿnh như vậy ta mới có thể thương và chấp nhận người khác như họ là.

 

Sống chung hạnh phúc là cả một nghệ thuật, không phải cứ thương và lo cho nhau là đủ. Có một cặp hát xiệc gồm hai cha con, người cha đă lớn tuổi và cô con gái khoảng 16 tuổi. Cô này thường lộn ngược trồng cây chuối trên đầu người cha, c̣n ông ta ráng giữ thăng bằng dưới đất để chịu cho cô con gái. Một hôm ông nói: "Bây giờ cha đă lớn tuổi, khi biểu diễn hai cha con ḿnh phải cẩn thận lo cho nhau nhiều hơn". Cô con gái đáp: "Cha ơi ! Con nghĩ cha hăy lo phần của cha thật chu đáo, c̣n con lo phần của con th́ mọi việc sẽ êm xuôi". Câu chuyện này đến tai đức Phật và ngài đồng ư với câu trả lời của cô gái. V́ khi đang lơ lững ở trên cao với chỗ dựa duy nhất là đầu cha ḿnh, việc quan trọng mà cô phải làm là hết sức chú ư giữ thăng bằng, đâu thể lo cho cha cô ở dưới được, và ngược lại cha cô cũng phải tập trung tinh thần ở dưới, đâu thể ngước lên nh́n hay lo cho con gái.

 

Muốn có hạnh phúc mỗi người phải chịu trách nhiệm và lo phần của ḿnh cho hoàn hảo, không nên ḍm ngó hay xen vào phần của người kia. Mỗi người đều có một thùng rác chứa 11 phiền năo riêng và có bổn phận lau chùi thùng rác của ḿnh. Nếu ta muốn lau rửa thùng rác của người kia tức là ḍm ngó vào phần của người khác. Ta phải biết tôn trọng và để nguyên cho người kia lau chùi thùng rác của họ. Sống chung không phải đổ rác vào người thương và cũng không phải lau chùi thùng rác của nhau. Ta có thể tâm sự chia xẻ niềm đau nỗi khổ của ḿnh cho người kia nghe và hỏi ư kiến nhưng chính ta phải tu tập chuyển hóa phiền năo của ḿnh. Điều dại dột nhất là đổ lỗi, trách móc, kết tội, than phiền người kia, làm như vậy là đang đổ rác của ḿnh vào người thương . Nếu cần ǵ th́ bàn nói chia xẻ tâm sự với nhau để t́m giải pháp như là nói ở phần trước. Lau chùi thùng rác của ḿnh, tức là thanh tịnh hóa Ư, T́nh, Thân cho đến khi không c̣n trách móc, buồn giận lẫn nhau th́ lúc đó ta là người trưởng thành và biết thương yêu thật sự.

 

Sống chung mà biết thương yêu, thông cảm, chấp nhận lẫn nhau để xây dựng hạnh phúc th́ quá tốt, nhưng nếu gặp trường hợp không may, chỉ có một bên chấp nhận và bên kia vô minh ngoan cố không chịu th́ sao? Một bên thương yêu và một bên lợi dụng, hoặc một bên trung thành và một bên lừa dối, một bên hiếp đáp và một bên sợ hăi, v.v..., sống chung mà chỉ làm khổ nhau th́ có nên tiếp tục không? Tốt nhất hăy ban cho nhau một ân huệ, đó là chia tay nhau, đường ai nấy đi. Đừng ích kỷ chiếm giữ, níu kéo v́ nếu bạn không thể thương người kia như họ là th́ sẽ có người khác thương họ. Đừng làm mất th́ giờ của nhau. Trong xă hội hiện nay, ly dị là một chuyện rất b́nh thường không có ǵ xấu hổ hay tội lỗi. Nhiều khi ly dị xong người ta mới tỉnh ngộ, nhận ra lỗi lầm và trưởng thành hơn.

 

Hạnh phúc tuyệt đối.

 

Những hạnh phúc kể trên dù một ḿnh hay hai ḿnh đều tương đối, tạm bợ giúp cho người ta bớt khổ phần nào trong kiếp luân hồi vô tận, v́ thật ra tất cả hạnh phúc thế gian chỉ là ảo ảnh (maya), như bóng trong gương, như trăng đáy nước, thấy dường như có mà không thật có, càng t́m kiếm càng thất vọng. Nếu chưa dứt được nghiệp ái th́ cố gắng tu sửa để sống hạnh phúc với người ḿnh thương, đừng gây khổ cho nhau.

 

Là người trí cần phải hướng đến "hạnh phúc tuyệt đối". Theo Đạo, hạnh phúc không phải là cái ǵ ở bên ngoài mà ở ngay trong tâm ḿnh, khi tâm chấm dứt thèm khát, ham muốn th́ lúc đó không phải chạy đi t́m kiếm cái ǵ nữa hết. Hạnh phúc chân thật là sự b́nh an của tâm hồn. Khi tâm hồn hoàn toàn b́nh an, vắng lặng không c̣n một chút bóng dáng của khát ái, phiền năo, lo âu, chấp ngă, ích kỷ th́ đó mới là hạnh phúc chân thật.

 

(Trích đăng từ cuốn sách "Ư, T́nh, Thân" của Thượng Tọa Thích Trí Siêu)