Lá thư Tu học 19

 

 

    Stuttgart, 1. 6. 2003

   

    Các bạn thân mến,

    Trong lá thư trước, tôi có tŕnh bày là đă phải vượt qua chấp ngă và chấp vào cái tưởng để bớt đi những đau khổ không cần thiết. Nhưng nguyên nhân những đau khổ trong quá khứ có lẽ lại nằm ở chỗ là tôi đă sống quá nhiều bằng trí năng. Và hôm nay sau nhiều tháng năm tu học, nh́n kỹ lại ngày xưa tôi mới nhận ra được điều đó. Quan điểm sống của tôi ngày đó là mọi việc đều phải được suy nghĩ tính toán kỹ càng trước sau để tránh rủi ro, là tôi muốn kế hoạch cả cuộc đời và đạt bằng được những ǵ dự tính, là t́nh cảm phải được lư trí hướng dẫn để khỏi sai lầm. Tôi đă sống quá nhiều với những h́nh ảnh đạo đức, lư tưởng: một mẫu người thanh niên lư tưởng, một t́nh yêu lư tưởng, một gia đ́nh lư tưởng và cả một thằng tôi lư tưởng... Nhưng lư trí muốn là một chuyện mà thực tế lại khác xa: con người tôi yếu đuối, thiếu ư chí, thiếu khả năng, việc làm ǵ cũng nửa vời... Sự mâu thuẫn giữa ước muốn của lư trí và khả năng hiện thực đă làm tôi mất tự tin, đă đem cho tôi những mặc cảm, những bất măn với bản thân mà không sao giải quyết nổi.
    Những năm tháng khủng hoảng kéo dài. Cho đến khi tôi may mắn gặp được pháp môn Làng Mai. Và bài học quan trọng đầu tiên cho tôi là bài học về Quán Từ Bi: thiền quán để yêu thương chính bản thân ḿnh, để chấp nhận và ôm ấp tất cả những yếu kém của ḿnh.

    Sau đây là 9 bài thực tập trong Quán Từ Bi:

1. Mong sao cho thân tâm tôi được an lạc và nhẹ nhàng.

2. Mong sao cho tôi được an toàn, không vướng vào tai nạn.

3. Mong sao cho trong tâm tôi không có giận hờn, phiền năo, sợ hăi và lo lắng.

4. Mong sao cho tôi biết nh́n tôi bằng con mắt hiểu biết và thương yêu.

5. Mong sao cho tôi nhận diện và tiếp xúc được với những hạt giống của niềm vui và hạnh phúc.

6. Mong sao cho tôi nhận diện và thấy được cội nguồn của những giận hờn, tham đắm và si mê trong tôi.

7. Mong sao cho tôi biết nuôi dưỡng tôi mỗi ngày bằng những niềm vui.

8. Mong sao cho tôi được sống mát mẻ, vững chăi và thảnh thơi.

9. Mong sao cho tôi không rơi vào thái độ dửng dưng và không kẹt vào hai mặt của vướng mắc và ghét bỏ.

    Và tôi đă "tha thứ" được cho tôi những thiếu xót, yếu kém của ḿnh, đă ôm ấp được cậu con trai bé nhỏ, yếu đuối, dễ tủi thân trong tôi. Dần dần, khi cái tâm và cái ư sống hài ḥa với nhau, khi lư trí không c̣n đ̣i hỏi cái phải là và cái nên là, cuộc sống trở nên nhẹ nhàng hơn. Từ đó, càng ngày tôi càng thấy những tính toán, lo toan, kế hoạch là không nhất thiết, mà quan trọng hơn là làm sao tiếp xúc được với những cái đẹp, cái mầu nhiệm trong bây giờ và ở đây. C̣n tương lai tất cả đều đâu vào đó, miễn là ta biết sống trọn vẹn.
    Để chia xẻ với các bạn bài học hôm nay, tôi trích một đoạn trong cuốn "Thương yêu theo phương pháp Bụt dạy" của thầy Nhất Hạnh về bài thực tập số 4 trong Quán Từ Bi. Ước mong các bạn sẽ biết thương ḿnh và đem t́nh thương, niềm vui đến cho gia đ́nh, cho bè bạn.

    Thân chào,

    Chân Đức Quang

 


 

Lá thư Tu học 19

 

Thương Yêu theo phương pháp Bụt dạy

 

(trích) Nhất Hạnh

 

• Mong sao cho tôi biết nh́n tôi bằng con mắt hiểu biết và thương yêu.

    Đối tượng quán chiếu đây là bản thân của ta. Chưa chắc ta đă biết thương ta, chưa chắc ta đă hiểu được ta. Đó là trường hợp của hầu hết mọi người.

    Kỳ trước chúng ta đă học một kinh ngắn về thương yêu tự ngă. Có những người tưởng ḿnh thương ḿnh nhưng kỳ thực trong đời sống hàng ngày những ǵ ḿnh nghĩ, nói và làm phần lớn đều trở lại làm hại ḿnh. Ḿnh là kẻ thù của bản thân chứ không phải là người thương của bản thân. Chúng ta có thể đang làm như vậy. Trong đời sống hàng ngày, chúng ta suy nghĩ, nói năng và hành động nhưng những tư tưởng, câu nói và hành động đó có thể đang làm hại bản thân của chúng ta mà chúng ta không biết. Bài quán chiếu này là để nh́n thấy cái bản thân của ta. Làm thế nào để ta hiểu được ta và như vậy ta mới có thể thương ta. Tây phương cũng có nói .connais toi toi-même. (anh phải hiểu anh!). Đó là ch́a khóa.

    Chúng ta đă biết rằng nếu chúng ta không hiểu và thương được bản thân th́ chuyện hiểu và thương một người khác trở thành rất khó khăn. Hiểu biết được tự thân là thấy được t́nh trạng sắc, thọ, tưởng, hành và thức của chính ḿnh. Hiểu được th́ có thể chấp nhận được, và ta bắt đầu có an. Có an mới có lạc. Có nhiều người suốt đời không chấp nhận được bản thân. Họ luôn luôn đứng về phía chống đối họ. Họ tự trách cứ họ, họ làm khổ bản thân họ, họ làm t́nh làm tội bản thân họ, đó cũng là v́ họ không hiểu bản thân họ.Ngồi lại, thắp sáng chánh niệm, chiếu vào năm yếu tố là sắc, thọ, tưởng, hành và thức của ḿnh để thấy được những cội nguồn của t́nh trạng năm uẩn đang có mặt. Thấy được cội nguồn tức là thấy được bản chất, thấy được tự tánh.

    Chữ tôi (mong sao cho tôi ...), sau này sẽ chuyển ra người ấy. Chúng ta nhớ rằng, người ấy có bốn loại: người thân, người rất thân, người dưng và người ghét. Tuần trước, chúng ta đă nghe một câu nói rất quan trọng, đó là khả năng thương yêu người khác tùy thuộc vào khả năng thương yêu bản thân. Thương ta được tới đâu th́ thương người được tới đó. Chúng ta chỉ có thể thương người tới cái mức chúng ta thương chúng ta. Và v́ vậy khi ta c̣n khước từ bản thân ta, khi ta c̣n mỗi ngày làm hại bản thân ta th́ ta đừng nói chuyện thương yêu và chấp nhận người khác.

    Tác phẩm Thanh Tịnh Đạo Luận nói rằng sở dĩ ta bắt đầu bằng người thân trước mà không bắt đầu bằng người ghét trước là tại v́ đối với những người thân và rất thân th́ ta dễ làm phát sinh tâm Từ và Bi hơn. Ví dụ được dùng trong Thanh Tịnh Đạo Luận là muốn đốt lửa cháy, ta phải dùng rơm cỏ trước, và khi rơm cỏ đă cháy lên th́ những cành nhỏ mới cháy, và khi những cành nhỏ đă cháy rồi th́ những cành lớn mới cháy, mà sau đó ngay tới những thanh củi c̣n ướt hoặc c̣n tươi cũng có thể cháy luôn. Bắt đầu bằng những thanh củi ướt th́ không bao giờ thành công được.

    Trước khi chúng ta quán chiếu về người ấy, dầu là người thân vừa, người rất thân, người dưng hay người ghét, ta phải tự quán chiếu ta, phải nh́n vào năm uẩn của ta.

    Với chánh niệm, ta có thể nhận diện được tư tưởng hàng ngày của ta, lề lối suy tư của ta, rồi tới những lời nói của ta, sau cùng tới những hành động của ta.

    Trước hết ta hăy nói về đường lối chúng ta suy tư và nội dung tư tưởng. Đây là sự thực tập Chánh Tư Duy - một trong tám yếu tố của Bát Chánh Đạo. Có khi chúng ta nghĩ quanh nghĩ quẩn, có khi chúng ta yếm thế, bi quan, tranh chấp, sầu năo, kỳ thị hoặc ganh ghét. Tư duy như thế th́ thể nào lời nói, hành động của chúng ta cũng sẽ biểu lộ những cái tư duy ấy. Kết quả là trong đời sống hàng ngày, ta tự làm hại ta và làm hại những người khác. V́ vậy nên dùng chánh niệm để soi sáng vào tư duy hàng ngày là công phu thực tập của chúng ta. Khi một tư tưởng hoặc một ư niệm không đúng chánh pháp xuất hiện, tư tưởng hoặc ư niệm ấy sẽ mang đến những giận hờn, những kỳ thị, những tham đắm. Chúng ta phải biết, phải nhận diện những tư tưởng và ư niệm đó, và khi nhận diện rồi ta mỉm cười: tư tưởng đó sẽ ngưng.

    Trong đời sống hàng ngày, mỗi khi nghe hay thấy một điều ǵ th́ chúng ta thường tác ư. Tác ư tức là chú ư tới một sự kiện, một đối tượng. Tác ư là manaskara, là một trong năm tâm sở biến hành. Nếu không có chánh niệm th́ chúng ta dâu biết tác ư là tác ư như lư hay phi như lư. Như lư tác ư là tác ư tới những đối tượng có thể đem lại an lành, sáng suốt và thương yêu cho chúng ta. Ta phải có tăng thân, phải có chánh niệm th́ trong đời sống hàng ngày ta mới thường có như lư tác ư, nghĩa là chúng ta có cơ hội tác ư với những đối tượng có tác dụng đem lại lợi lạc, giải thoát, niềm vui và hạnh phúc. C̣n những loại tác ư khác, ngược lại, sẽ làm cho tâm chúng ta buồn khổ, giận hờn và kỳ thị. Những loại tác ư ấy gọi là phi như lư tác ư hay là bất như lư tác ư.

    Ngày xưa tôi có viết một cuốn truyện là Nẻo Về Của Ư. Nẻo Về Của Ư có nghĩa là những nẻo đường của ư đi. Ư (manas) ở trong đạo Bụt thường được ví dụ như một con khỉ leo trèo thoăn thoắt từ cành cây nào qua cành cây kia. Ư có thể đưa ta tới một thế giới rất buồn khổ, đau đớn và đen tối; v́ vậy ta phải biết theo dơi ư, theo dơi con khỉ của tâm ư. Nẻo Về Của Ư là nẻo về của tâm ư.

    Ta phải thắp sáng ngọn đèn chánh niệm để thấy được nẻo đi về của tâm ư ta, đừng để cho nó mỗi ngày nhiều lần đi về phía phi như lư, không có lợi lạc. Khi chúng ta nghe một câu chuyện hay thấy một sự kiện, câu chuyện hay sự kiện đó thường đưa đẩy chúng ta tới một tác ư, và tác ư đó có thể là như lư hay phi như lư. Nếu có chánh niệm, ta nhận diện được tác ư ấy liền. Nếu tác ư ấy là như lư th́ ta nên nuôi dưỡng nó. Nếu chánh niệm cho ta biết tác ư ấy là không như lư th́ tự nhiên chúng ta sẽ buông bỏ liền đối tượng: .Ta biết rồi, ngươi là một tư tưởng không có lợi lạc cho ta và cho các bạn ta trong đời sống hàng ngày.. Chánh niệm là Bụt, soi sáng xa gần . Chánh niệm soi sáng đường đi, nẻo về của tâm ư.

    Khi chúng ta biết duy tŕ những tâm ư thanh tịnh và an lạc th́ ngôn ngữ và hành động của chúng ta sẽ biểu lộ được niềm an lạc và thanh tịnh đó. Ngôn ngữ và hành động ấy làm lợi ích cho bản thân và cho những người xung quanh. Chúng ta là người thương của bản thân và của những người khác, chúng ta không phải là kẻ thù của bản thân và của những người khác.

    Sau đó chúng ta lại dùng chánh niệm để soi sáng lời nói của chúng ta. Lời nói nào, ta đang biết ta đang nói lời đó. Có những cái ta đă tự cam kết là không nói, vậy mà đột nhiên ta thấy ta đang nói. Sở dĩ điều này xảy ra được là do có sức mạnh ghê gớm bên trong, sức mạnh của tập khí. Và những lúc đó chỉ có chánh niệm của ta cứu được ta thôi. Nó giúp ta ngưng lại. Không có chánh niệm th́ ta sẽ tiếp tục nói, nói xong th́ gây tan vỡ. Gây tan vỡ ở trong ta và ở ngoài ta. Chánh Ngữ là một yếu tố khác của Bát Chánh Đạo.

    Hành động của thân thể cũng là biểu lộ của tư duy ta, và khi ta làm ǵ, dầu là một cái nh́n, một cái hất tay hay là một sự đứng dậy, tất cả đều biểu lộ tư duy của ta, biểu lộ cái giận, cái buồn, cái thương, cái ghét, cái chánh niệm hay cái thiếu chánh niệm của ta cả. Chánh niệm được thắp lên để ta thấy là ta đang làm ǵ, đang đứng lên như thế nào, đang ngồi xuống như thế nào, đang nh́n như thế nào, đang cau mày như thế nào...

    Chỉ có chánh niệm, có Bụt mới soi sáng cho ta được. Khi được soi sáng, ta mới biết rằng hành động ấy có lợi ích cho bản thân hay đang làm hại cho bản thân. Làm hại cho bản thân cũng là làm hại cho những người khác, và làm hại những người khác là cũng làm hại cho bản thân.

    Và v́ vậy cho nên câu đầu của bài tập này là nguyên tắc quán chiếu: Mong sao cho tôi biết nh́n tôi bằng con mắt hiểu biết và thương yêu. Khi ta sử dụng được chiếc ch́a khóa của hiểu biết để mở được cửa thương yêu th́ tự nhiên ta chấp nhận được ta và chấp nhận được những người xung quanh. Nếu chưa chấp nhận được những người xung quanh nghĩa là ta chưa chấp nhận được chính ḿnh. Nếu ta có tranh chấp, có chiến tranh với những người xung quanh, điều đó cũng có nghĩa là ta đang có một cuộc tranh chấp, một cuộc chiến trang tiềm tàng bên trong bản thân.

    Từ nhăn thị chúng sanh nghĩa là lấy con mắt thương yêu nh́n mọi người. Chúng sanh đây bao gồm cả bản thân. Ngạn ngữ Việt Nam có câu thương người như thể thương thân, câu đó nếu xét lại cho kỹ ta sẽ nhận thấy tác giả tự coi như đă thương thân rồi cho nên mới khuyên rằng phải thương người như ḿnh đă tự thương. Nhưng chưa chắc ta đă đi được tới điểm đó, tức là điểm tự thương. Chưa thương thân th́ đừng nói đến chuyện thương người. Cái người làm khổ ta nhiều nhất là ai? Là chính ta. V́ vậy nên thương thân là một phép thực tập rất lớn.