Anh Lương Văn Hy

 

 

Anh Lương Văn Hy học lớp Đệ Thất A2 trường Trung học Mạc Đĩnh Chi năm 1964.
Sang lớp Đệ Tam 1968-1969 anh xin chuyển qua trường Pétrus Kư  v́ anh chọn học Ban C ( Ban Văn Sử ) mà trường Mạc Đĩnh Chi không có Ban này.

Là học sinh xuất sắc của trường Pétrus Kư, năm 1971 anh được nhận học bổng du học tại Mỹ.
Sang Mỹ, anh chọn nghề phù hợp với sở thích của ḿnh và cũng là một ngành tương đối mới so với các ngành Khoa học Xă hội khác, đó là ngành Nhân học (Anthropology)

Con đườc học vấn và sự nghiệp của anh Hy đă đạt được nhiều thành công và nhiều thành tích xuất sắc. Thành quả này không những làm rạng danh người Việt Nam ở hải ngoại, ở trong nước mà c̣n là niềm hănh diện cho bạn bè đồng môn nói riêng và người Việt Nam nói chung.
Mời các bạn theo dơi chi tiết thành tích biểu của một đồng môn của chúng ta :
 

 


 

 


 

Lương Văn Hy



Sinh năm: 1953
Hiện đang định cư: Canada

• Quá tŕnh công tác, thành tích, công tŕnh nghiên cứu:
- Ông Lương Văn Hy nhận bằng cử nhân tại đại học Berkeley, California năm 1974,
- Nhận Bằng Tiến sĩ tại đại học Harvard, Hoa Kỳ, năm 1981.
- Giảng dạy tại Đại học Hamilton (5 năm) và Đại học Johns Hopkins (4 năm) ở Hoa Kỳ trong thập kỷ 1980; và ở Đại học Toronto ở Canada từ 1990 (Giải thưởng giảng dạy xuất sắc năm 1994).
- Hiện ông là giáo sư Nhân học, chủ nhiệm khoa, Trường Đại học Toronto - Canada.
- Ông quan tâm nghiên cứu các lĩnh vực như: tác động tương tác của ngôn từ, cấu trúc xă hội, kinh tế trong vùng Đông và Đông Nam Á.
- Ông từng là chủ tịch nhóm Việt Nam học trong Hội Á Châu học tại Bắc Mỹ (nhiệm kỳ 1998-2001); được bầu là thành viên của Hội đồng Đông Nam Á học của Hội Á Châu học tại Bắc Mỹ (nhiệm kỳ 1994-97); được bầu vào Ủy ban đạo đức nghề nghiệp của Hội Nhân học Mỹ; cũng như đă từng là thành viên của ban Đông Nam Á của Hội đồng khoa học xă hội Mỹ và Hội đồng các hội thông thái Mỹ (American Council of Learned Societies).
- Ông được đưa vào Canadian Who’s Who (Những người cần biết đến ở Canada, năm 1996 và tiếp theo) và Who’s Who in the Twenty-First Century (Những người cần biết đến trong thế kỷ 21; do International Biographical Centre ở Cambridge, Anh, xuất bản, từ năm 2002)

• Các tác phẩm chính:
- Hành sử ngôn từ và ngữ nghĩa: Hệ từ Việt về người (John Benjamins, 1990).
- Cách mạng làng xă: truyền thống và chuyển đổi ở miền Bắc Việt Nam từ năm 1925 đến 1988 (University of Hawaiii Press 1992).
- Văn hóa và Kinh tế: tiến tŕnh tạo h́nh của chủ nghĩa tư bản ở Đông Á. (University of Michigan Press, 1997, đồng chủ biên với Timothy Brook).
- Giới, ngôn từ và nhóm xă hội từ hiện thực tiếng Việt (Nhà xuất bản Khoa học Xă hội, Hà Nội 2000).
- Việt Nam sau chiến tranh: Động thái của một xă hội (Rowman & Littlefield, 2003, Lương văn Hy chủ biên)
Ông viết rất nhiều các chương sách và các bài cho một số tạp chí chuyên ngành về ngôn từ, tổ chức xă hội, và kinh tế ở Việt Nam.
Chương tŕnh nghiên cứu hiện nay của ông tập trung vào ngôn từ, giới, kinh tế chính trị và sự biến đổi kinh tế, xă hội, văn hóa trong cộng đồng nông thôn và mối quan hệ với quá tŕnh di dân từ nông thôn lên thành thị.

• Đóng góp cho quê hương Việt Nam:
- Từ năm 1987, ông đă liên tục hợp tác với các Viện nghiên cứu tại Việt Nam, giúp đào tạo nhiều nghiên cứu viên trẻ, và thực hiện các cuộc nghiên cứu và thực địa tại Việt Nam.
- Ông cũng đă tạo điều kiện cho một số nhà khoa học xă hội Việt Nam nghiên cứu và theo học tại Đại học Toronto, Canada; và cũng đă hổ trợ cho nhiều đoàn chính thức của Việt Nam làm việc tại Canada trong khuôn khổ hợp tác song phương Việt Nam - Canada, cũng như trong khuôn khổ hợp tác đa phương.
- Ông cũng đă giảng trong một số chương tŕnh đào tạo sau đại học của Viện Khoa học xă hội Viêt Nam, của Đại học Khoa học xă hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh, và của một vài cơ quan nghiên cứu và đào tạo khác trong nước.

 


 

Tôn vinh 19 Việt kiều danh hiệu "Vinh danh nước Việt"


Tối 18-2, tại Nhà Thái học, Văn Miếu – Quốc Tử Giám đă diễn ra lễ tôn vinh các gương mặt Việt kiều tiêu biểu được bầu chọn danh hiệu “Vinh danh nước Việt 2004” do báo điện tử VietnamNet tổ chức.
Ngoài các nhà khoa học, danh sách 19 Việt kiều được vinh danh lần này c̣n có các doanh nhân, nhà nghiên cứu kinh tế như chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành, chuyên gia ngân hàng và đầu tư Vũ Giản, TS kinh tế Trần Văn Thọ, doanh nhân Nguyễn Ngọc Mỹ; hoặc những người chuyên về âm nhạc như Đặng Thái Sơn, Trần Văn Khê, Nguyễn Thuyết Phong...
“Vinh danh nước Việt” là danh hiệu được sáng lập bởi Báo điện tử VietNamNet và sẽ trở thành danh hiệu hàng năm. Mục đích của việc sáng lập danh hiệu này nhằm tôn vinh tài năng và những thành tích đóng góp của những người con Việt Nam sinh sống và làm việc tại nước ngoài nhưng một ḷng hướng về Tổ quốc. Thời gian tới, với khoảng 3 triệu kiều bào, hơn 300 ngh́n chuyên gia cấp đại học và sau đại học, và tổng thu nhập hàng năm lên đến hơn 50 tỷ USD, tiềm năng của kiều bào là rất lớn, danh hiệu “Vinh danh nước Việt” sẽ góp phần tôn vinh nhiều Việt kiều tiêu biểu.
Danh sách 19 Việt kiều nhận giải Vinh danh nước Việt 2004:
1. GS-TS Nguyễn Đăng Hưng (sinh 1941, cư trú tại Bỉ):
Có nhiều đóng góp trong việc hợp tác về đào tạo Cao học Bỉ-Việt.
2. GS-TS nhân chủng học Lương Văn Hy (1953, Canada):
Có nhiều đóng góp trong việc giới thiệu ngôn ngữ, tổ chức xă hội và kinh tế của VN bằng nhiều h́nh thức.
3. TS Nguyễn Chánh Khê (1952, hiện đang định cư tại Việt Nam):
Có 66 phát minh sáng chế tại Nhật và Mỹ, đem lại những ứng dụng kinh tế to lớn trong lĩnh vực máy vi tính, máy photocopy.
4. GS-TS Trần Văn Khê (1921, Pháp)
: Có những đóng góp to lớn trong việc giới thiệu văn hóa nói chung và âm nhạc truyền thống Việt Nam nói riêng ra nước ngoài.
5. GS-TS Đặng Lương Mô (ở Nhật, đă hồi hương):
Từng nổi tiếng ở Nhật và nhiều nước trong chuyên ngành điện tử bán dẫn và thiết kế vi mạch.
6. Doanh nhân Nguyễn Ngọc Mỹ (1950, Australia):
Hiện định cư tại Việt Nam, là chủ nhiệm CLB doanh nhân Việt kiều, có những đóng góp rất lớn trong việc nối gần mối quan hệ giữa Việt kiều với trong nước.
7. GS-TS Ngô Thanh Nhàn (1948, Mỹ):
Việc chuyển đổi, mă hóa chữ Nôm, chữ quốc Ngữ trên máy vi tính là một trong những đóng góp điển h́nh của ông cho đất nước.
8. Nhạc trưởng Lê Phi Phi (Macedonia):
Giáo sư Trung tâm Âm nhạc và Múa Ilijia Nikolovski của Macedonia.
9. GS-TS âm nhạc Nguyễn Thuyết Phong (Mỹ):
Là người Việt thứ hai (sau GS Trần Văn Khê) được ghi tên và tiểu sử vào cuốn Đại từ điển âm nhạc thế giới.
10. TS Nguyễn Công Phú (1951, Pháp): Là chuyên gia quản lư các dự án lớn về điện, dầu khí, cầu đường tại hàng chục nước, ông tư vấn nhiều cho Việt Nam trong các lĩnh vực khác nhau về giao thông.
11. Tiến sĩ vật lư Nguyễn Quang Riệu (1932, Pháp): Được giải thưởng của Viện hàn lâm khoa học Pháp về những thành tích Thiên văn Vật lư.
12. Nghệ sĩ dương cầm Đặng Thái Sơn (1958): Giải nhất cuộc thi piano quốc tế Chopin lần thứ 10.
13. Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành (1932, Mỹ): Có nhiều đóng góp có giá trị giúp Việt Nam trong phát triển đầu tư và hội nhập quốc tế về kinh tế, tài chính.
14. TS kinh tế Trần Văn Thọ: Giảng viên có uy tín về thương mại quốc tế, kinh tế chuyển đổi... tại Nhật, là cầu nối quan trọng để nhiều sinh viên tại Nhật đi thực tế tại Việt Nam.
15. TS Trịnh Xuân Thuận (1948, Mỹ): Nổi tiếng trong chuyên ngành thiên văn tại Mỹ và trên thế giới.
16. GS-TS kỹ thuật y sinh Vơ Văn Tới (1949, Mỹ): Thành viên Hội đồng quản trị Quỹ giáo dục Việt Nam (VEF) của Chính phủ Mỹ.
17. GS-TS vật lư Trần Thanh Vân (1937, Pháp): Bắc đẩu bội tinh của Pháp, người tổ chức các hội thảo vật lư quốc tế mang tên Gặp gỡ Việt Nam.
18. Chuyên gia ngân hàng và đầu tư Vũ Giản (1940, Thụy Sĩ): Giúp Việt Nam nhiều trong việc đào tạo, cải tổ ngân hàng đầu tư và chứng khoán tại Việt Nam.
19. Kiến trúc sư Hồ Thiệu Trị (1945, Pháp). Năm 1997, ông đă thực hiên việc cải tạo, nâng cấp Nhà hát Lớn Hà Nội (Nhân dân 19-02).

 


 

Lời tâm t́nh của anh Hy 

 

 

Chào chị Dung và các bạn,

Xin cảm ơn chị Dung đă có vài ḍng và thêm 3 cái attachments. Trong sự nghiệp, th́ v́ đi dạy ở bậc Đại Học, đến nay đă hơn 25 năm, nên cũng có được cơ hội để đóng góp một phần cho sự phát triển của ngành chuyên môn của ḿnh ở Việt Nam. Riêng ngày xưa, ở Mạc Đĩnh Chi, ḿnh chỉ học từ 64-68, sau đó phải chuyển trường sang Pétrus Kư, nên không có dịp sinh hoạt cả 7 năm ở Mạc Đĩnh Chi. Tuy nhiên, ḿnh vẫn c̣n nhớ nhiều kỷ niệm đẹp ở Mạc Đĩnh Chi.

Tuy không tham gia trao đổi thường trong diễn đàn và listserve này v́ luc bat tong tam, công việc chạy như chong chóng và phải đi nhiều, nhưng ḿnh rất cảm ơn các bạn nào đă lập và duy tŕ Website MĐC 64-71 cũng như tạo những cơ hội qua listserve để chúng ta có được thông tin về nhau.

 

Lương Văn Hy

11-08-2006


 

H́nh họp mặt Hè 2002 tại Sài G̣n

 

 

Sau đây là h́nh kỷ niệm ngày họp mặt đồng môn, nhân ngày về thăm quê hương

của bạn Lương Văn Hy, vào mùa Hè năm 2002 tại Sài G̣n.