Kế trị nước của một Bà Hoàng trong phủ Chúa Trịnh

 

Hoa Dung Nguyễn Thị Ngọc Diễm

(Tranh minh họa)

 

 

Trong chế độ phong kiến, mặc dù bị nhiều hạn chế do quan điểm Nho giáo gò bó nhưng không vì thế mà giới nữ lưu nước Việt lại không thể hiện được tài năng, phát huy được trí tuệ của mình, ngược lại, nhiều gương mặt xuất hiện cả trên chính trường, nơi tưởng chừng chỉ dành riêng cho giới mày râu. Đã có không ít những bậc nữ hiền tham chính, giàu lòng nhân từ, lo toan đến việc dân việc nước, thể hiện đầu óc và tài năng chính trị, một trong số đó có bà chính phi Hoa Dung, vợ chúa Trịnh Doanh, người đã vạch ra kế sách trị nước ngắn gọn nhưng đầy tính thuyết phục.

 

Người đề ra kế sách trị nước “Ngũ quy” là bà Nguyễn Thị Ngọc Diễm (có sách viết tên bà là Nguyễn Thị Ngọc Diệm, Nguyễn Thị Trạch), chính phi của chúa Trịnh Doanh, hồi nhỏ có tên là Khương, quê ở làng Linh Đường, huyện Thanh Trì, phía Nam kinh thành Thăng Long.

Tượng thờ chúa Trịnh Doanh và chúa Trịnh Sâm

Làng Linh Đường còn gọi là Linh Đàm nằm bên một đầm nước lớn tương truyền có một loại cỏ thơm gọi là cỏ linh chi cho nên thành tên làng, Linh Đàm có nghĩa là đầm cỏ thơm, còn Linh Đường có nghĩa là hồ nước có cỏ linh chi. Ngoài ra, nơi đây còn có tên gọi là Liên Đàm, nghĩa là đầm sen, bởi đầm có nhiều hoa sen. Ngôi làng này xưa thuộc xã Linh Đàm, sau đổi thành xã Hoàng Liệt, huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội.

 

Bà chính phi của chúa Trịnh Doanh sinh ra và lớn lên tại ngôi làng cổ này và thuộc dòng họ Nguyễn Linh Đường, một dòng họ vẻ vang, uy thế. Cha của bà là Nguyễn Luân (1686 - 1739), tự là Đình Anh, Đình Tư nên người ta thường gọi ông là Nguyễn Đình Tư. Năm 23 tuổi thi Hương, ông đỗ giải Nguyên, năm sau trúng Tam trường rồi thi đỗ khoa Hoành từ sĩ vọng, lại đỗ Văn chức nội đình tiến triều (tương đương tiến sĩ). Là người có tài năng, đạo đức nên Nguyễn Đình Tư được chúa An vương Trịnh Cương coi trọng cho vào vương phủ giữ chức Tư giảng, làm thầy dạy học, giảng kinh sách cho công tử Trịnh Doanh.

 

Khi ấy con thứ 11 của vua Lê Dụ Tông là hoàng tử Lê Duy Thận (còn gọi là Duy Thìn, Duy Thần), cháu gọi bà phi họ Vũ vợ Trịnh Cương bằng cô đang được nuôi trong phủ chúa, vì thế hoàng tử cũng cùng nghe giảng sách với Trịnh Doanh. Sau này, hai học trò của Nguyễn Đình Tư, một người trở thành vua (Lê Ý Tông), một người làm chúa (Minh Đô Vương) khiến người đương thời kinh ngạc mà ca ngợi ông rằng: “Kẻ áo vải mà làm nên bậc thầy của cả vua lẫn chúa, xưa nay thực hiếm có”.

 

Với công lao và tài trí, Nguyễn Đình Tư được triều đình phong cho nhiều tước vị cao: Tiền tả tư giảng, Bồi tụng, Thượng thư bộ Công, tước Nam quận công. Ông còn là bạn tâm giao của nhiều danh sĩ nổi tiếng như Hoàng giáp Ngô Thì Sĩ; Thượng thư, Tiến sĩ Nguyễn Công Cơ, Thượng thư Nguyễn Công Thái, Hoàng giáp Nguyễn Quý Ân, Đỗ Thế Giai, v.v...

Tư thất của ông là nơi mọi người thường đến thưởng hoa, ngâm thơ, bình văn xướng họa nên nhà ông được gọi là “Nguyễn môn đào lý” (vườn đào - tài trí, thơ văn - nhà họ Nguyễn). Nguyễn Đình Tư sinh được 6 người con, 3 trai 3 gái thì con trai đều được phong làm Quận công, con gái đều làm phu nhân đại thần; trong đó nổi tiếng nhất là bà Nguyễn Thị Diễm.

 

Xuất thân trong một gia đình danh giá, cha giữ chức lớn trong triều, lại là thầy học của vua Lê chúa Trịnh; các anh trai đều làm quan, chị em gái đều làm vợ quận công, tướng lĩnh. Kế thừa truyền thống dòng tộc, lại là người thông minh, ham học nên đến tuổi cập kê, Nguyễn Thị Ngọc Diễm trở thành một người tài sắc, mẫn tiệp nổi tiếng. Chúa Trịnh Doanh nghe tiếng đã làm lễ xin cưới bà làm vợ, đưa vào phủ chúa phong làm chính phi và đặt mỹ hiệu là Hoa Dung.

Hoa Dung Nguyễn Thị Ngọc Diễm

(Tranh minh họa)

 

Ở địa vị cao sang nhưng chính phi Hoa Dung rất khiêm nhường nhân ái, sống khoan hòa, cần kiệm, độ lượng với mọi người; không chỉ vậy, bà còn là người am hiểu rộng nên được cả An vương Trịnh Doanh và quần thần rất nể trọng phẩm cách và học vấn. Biết được tài năng của bà nên chúa Trịnh thường hay gọi vào đàm đạo về quốc sự.

 

Mỗi khi đi kinh lý, chúa đều giao cho chính phi Hoa Dung trông coi công việc trong vương phủ. Qua những lần điều hành công việc đó mà tư duy, tầm nhìn và khả năng chính trị của bà ngày càng phát triển, vừa bao quát tính chuyện lâu dài, lại vừa thực tế để tìm ra những biện pháp đem lại lợi ích trong quản lý, chấn hưng đất nước, lập lại kỷ cương và bình ổn xã hội. Trên cơ sở đó, bà đã đưa ra kế sách “Ngũ quy” dâng lên chúa với nội dung cơ bản là:
- Quy nông tắc ổn: Phát triển nông nghiệp, khi nghề nông phát đạt thì thế nước nhất định sẽ mạnh, xã hội ổn định.
- Quy công tắc phú: Mở mang công nghiệp để đem lại sự giàu có cho đất nước.
- Quy thương tắc hoạt: Thúc đẩy thương mại, mua bán trao đổi hàng hóa sẽ tạo sự linh hoạt, năng động trong xã hội.
- Quy trí tắc hưng: Quan tâm tới giáo dục, nâng cao hiểu biết bằng học vấn, đào tạo nhân tài để sử dụng thì đất nước sẽ hưng thịnh.
- Quy pháp tắc bình: Lấy pháp luật làm công cụ quản lý xã hội, giữ nghiêm phép nước thì xã hội bình yên.

 

Sử sách không ghi chép lại việc chúa Trịnh có đem kế sách “Ngũ quy” của chính phi Hoa Dung ra thi hành trong thực tế hay không nhưng cho biết rằng, xã hội Đàng Ngoài thời chúa Trịnh Doanh chấp chính khá ổn định. Trịnh Doanh là người chăm chỉ trong công việc, ban hành nhiều quyết định hợp lòng người, được quần thần và dân chúng ủng hộ, ông rất chú ý tuyển chọn và sử dụng quan lại trên cơ sở coi trọng thực tài, mọi việc thưởng phạt công minh…

 

Những điều đó chứng tỏ tư tưởng chính trị của chính phi Hoa Dung có ảnh hưởng ít nhiều tới các quyết sách của phủ chúa và việc xử lý chính sự đều không nằm ngoài khuôn khổ kế sách “Ngũ quy” mà bà đã đề xuất. Sau khi Trịnh Doanh mất, trong thời gian đầu khi Trịnh Sâm lên nối nghiệp chúa, bà Hoa Dung rất quan tâm giúp đỡ con mình, Trịnh Sâm tôn bà là Thái phi, còn vua Lê Hiển Tông ban “kim sách” (sách vàng), một ân huệ chỉ dành cho những nhân vật đặc biệt cao quý và phong bà làm Quốc thánh mẫu. Bà có những ảnh hưởng nhất định đến việc cai trị của chúa lúc mới nắm quyền, bấy giờ, “chúa Trịnh Sâm hăng hái làm việc, chán thói cẩu thả từ trước, mong có biến thông cổ vũ thực hành chính sự đổi mới” (Đại Việt sử ký tục biên).

 

Sách “Lịch triều hiến chương loại chí” ca ngợi: “Chúa cho phép tắc các triều trước là nhỏ hẹp, nên việc chính thường tự quyết đoán, phần nhiều không theo lệ cũ, cầm giữ chính quyền, cất nhắc nhân tài, văn tự sửa sang ở trong, võ công chống chọi ở ngoài. Chính giáo lừng lẫy khắp nơi, bốn cõi yên ổn, công lao rực rỡ hơn các đời trước”.

 

Năm Đinh Hợi (1767), tức là ngay sau khi lên ngôi chúa, Trịnh Sâm đã truy phong ông ngoại mình là Nguyễn Đình Tư (mất năm 1739) tước Triệu Khánh công, Thượng đẳng phúc thần, sai lập hai ngôi từ đường thờ phụng. Còn bà Hoa Dung, trước đó đã bỏ tiền xây ngôi đền ở làng Huỳnh Cung, gần quê mình, đó là nơi đại danh sư Chu Văn An thời Trần dạy học thuở xưa, ngôi đền này thờ cả hai nhà giáo Chu Văn An và Nguyễn Đình Tư.

 

Sử sách đánh giá chính sự thời Trịnh Sâm có nhiều tiến bộ tích cực nhưng về sau, vì ông quá say mê sắc đẹp của Tuyên phi Đặng Thị Huệ mà dần bỏ bê việc nước, rồi cho phế con trưởng lập con thứ, lấy Trịnh Cán (con của Đặng Thị Huệ) làm Thế tử. Nhận thấy nguy cơ của sự bất ổn, bà Thái phi Hoa Dung đã nhiều lần can ngăn nhưng không được Trịnh Sâm nghe theo, bà chán nản rời vương phủ về sống ở quê Linh Đường, giúp làng sửa đình, chùa, cày cấy, dệt lụa, làm nhiều việc thiện cho dân.

 

Lúc chúa Trịnh Sâm ốm nặng sắp mất, bà về thăm nom, chăm sóc con với lòng thương cảm xót xa rồi khuyên không nên vì tình cảm cá nhân mà làm hỏng việc lớn, ngôi chúa với trách nhiệm nặng nề không thể trao cho một đứa trẻ yếu ớt thể trạng, ốm đau quặt quẹo được. Thế nhưng phe cánh của Đặng Thị Huệ quá lớn, Trịnh Sâm mất đi, quyền lực nằm cả trong tay Huy quận công Hoàng Đình Bảo nên Trịnh Cán vẫn được lập làm chúa.

 

Đúng như nhận định của bà Thái phi, kể từ đó, các phe phái bắt đầu hình thành chống đối nhau, chính biến xảy ra khi kiêu binh nổi loạn giết Hoàng Đình Bảo thuộc phe Đặng Thị Huệ, phế Trịnh Cán rồi tôn Trịnh Tông lên làm chúa, Đặng Thị Huệ phải lẩn trốn. Mặc dù việc Trịnh Tông lên ngôi chúa là hợp ý của mình, nhưng bà Thái phi Hoa Dung không nỡ thấy cảnh nồi da xáo thịt bèn cho người đi tìm Đặng Thị Huệ và Trịnh Cán về cung, cho ăn uống, thay quần áo mặc…
Lên ngôi chúa, Trịnh Tông đã tôn phong bà là Thánh từ Thái tôn, nhưng không may một thời gian sau đó, bà lâm bệnh rồi mất vào ngày 28 tháng 7 năm Giáp Thìn (1784), thọ 65 tuổi vào thời điểm khi mà cơ nghiệp nhà chúa sắp tiêu vong trước cơn bão táp của phong trào Tây Sơn.

 

Linh cữu của bà được đưa về an táng tại chân núi Mông Cù (còn có tên là Bút Sơn) ở làng Đa Bút, huyện Vĩnh Lộc, xứ Thanh Hóa. Lăng Thái phi Hoa Dung Nguyễn Thị Ngọc Diễm được xây bằng đá, dân gian trong vùng gọi là lăng bà Quốc mẫu hay lăng bà Trịnh. Việc chủ trì tế lễ khi khánh thành lăng do đại thần, Tiến sĩ Phan Huy Áng làm chủ tế, còn việc phụ trách, điều hành việc xây dựng lăng Thái phi do con trai ông là quan Đốc đồng Thanh Hóa, Tiến sĩ Phan Huy Ích đảm nhiệm.

 

Khu lăng mộ chính phi Hoa Dung được hoàn thành vào tháng 11 năm Giáp Thìn (1784). Trong tác phẩm “Dụ Am thi văn tập” của mình, Phan Huy Ích có bài thơ lại ghi việc làm lễ sơn lăng cho Thái phi, có đoạn viết:
“Tuổi già chăm lo yên xã tắc Lập ra khuôn phép giúp ba triều Linh Đường mưa máu âu trời xót Núi Bút sương buông, buồn tịch liêu”. Phía trước lăng mộ có dựng tượng 12 võ quan tạc bằng đá nguyên khối, đứng nghiêm trang, kính cẩn thành hai hàng. Đầu tượng đội mũ tròn, mình mặc giáp trụ dài có viền nhiều lớp, chân đi giày chiến kiểu hia cao đường bệ, một tay cầm kiếm, tay còn lại đặt trước ngực như nguyện bảo vệ sự yên giấc của bà hoàng Hoa Dung. Ngoài ra, còn hai bức tượng phỗng đá đầu to có ngắn, tóc búi quả đào, mắt lồi, mũi dô, miệng rộng với ý nghĩa là những người hầu cận.
Tượng được tạo tác trong tư thế quỳ chầu đợi lệnh, hai chân quặp ra phía sau, hai tay khoanh trước ngực… Cách lăng mộ không xa còn có ngôi miếu nhỏ thờ tự bà chính phi Hoa Dung, phía trước miếu có phiến đá đề dòng chữ Hán: “Thiên tiên quốc thánh mẫu”.

 

Có thể nói, ở bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, dân tộc Việt Nam đều có những người hiền phụ trung trinh tiết hạnh, những anh thư bất khuất, những nữ kiệt nổi danh…tất cả họ đều rất đáng kính phục cả về trí tuệ lẫn đức độ, là những tấm gương sáng cho hậu thế soi chung.

 

Qua cuộc đời của Hoa Dung Nguyễn Thị Ngọc Diễm và kế sách “Ngũ quy” do bà đề xướng, chúng ta thấy bà là người đức độ, thực tài, học rộng nhưng không nệ sách vở, biết nhiều mà lại giỏi dùng cái biết mà luận việc nước, việc đời. Điều đó là một minh chứng về tài năng và phẩm cách cao quý của phụ nữ Việt Nam, cho dù mấy trăm năm lịch sử đã trôi qua nhưng những bài học, tầm nhìn chính trị sâu rộng thể hiện trong từng kế sách “Ngũ quy” đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị.


Lê Thái Dũng