Thơ Hồ Xuân Hương

 


Bạch Đằng Giang tạm biệt (1)

Khấp khểnh đường mây bước lại dừng,
Là duyên là nợ phải hay chăng.
Vịn hoa khéo kẻo lay cành gấm,
Vục nước xem mà động bóng giăng.
Ḷng nọ chớ rằng mây nhạt nhạt
Lời kia này đă núi giăng giăng.
Với nhau(2) t́nh nghĩa sao là trọn,
Chớ thói lưng vơi cơ nước Đằng(3).

(1) Tặng bạn khi chia biệt ở sông Bạch Đằng.
(2) Có lẽ là chữ Nhau. Văn bản chép Sao.
(3) Lưng voi cỡ nước Đằng: Nước Đằng là một nước nhỏ ở thời Xuân Thu Chiến Quốc, bị ép giữa hai nước lớn là Tề, Sở nên luôn phải giữ ǵn. Trong bài thơ tương truyền là của Hồ Xuân Hương cũng dùng điển này để tả nỗi khổ của người đa thê: "Ngoảnh mặt sang Tề, e Sở giận; Quay đầu về Sở, sợ Tề ghen".
Bạch Đằng Giang tạm biệt(1)

Hồ Xuân Hương
Bài ca theo điệu Xuân Đ́nh Lan

Trăng tà người lặng từa lầu không(1)
Năm lắng chuông đồng,
Dậy lắng chuông đồng,
Đêm lắng tiếng buồn vang mé sông
Thanh đă tương đồng,
Khí đă tương đồng
Thanh khí năm canh rộn ră ḷng
Tâm ở Vu Phong
Ân ái cuộc tao phùng.
Nhàn tựa gió đông
Mỏi tựa gió đông
Một vườn hồng hạnh biếc xanh song
Phồn hoa tưởng đă không
Sớm nay bông nở mấy nhành hồng
Chim oanh chớ quyến xuân đi nhé
Ta sợ "Đào hoa vô lực tiếu đông phong"
Trăng thanh gió mát
đem hương vào với các thi nhân.

(1)Nguyên văn: Thú lầu trung - trong cḥi canh. Thú lâu là cái cḥi canh ở chốn đồn binh. Thư Đường Huyền Tông có câu: "Nguyệt lạc thú lâu không" - Trăng lặn cḥi canh vắng.

Hồ Xuân Hương
Bánh Trôi Nước

Thân em vừa trắng lại vừa tṛn,
Bảy nổi ba ch́m với nước non.(1)
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm ḷng son(2)

(1) Bánh trôi khi luộc trải qua ch́m nổi mấy lần trong nước mới chín.
(2) Tấm ḷng son: Bánh trôi khi luộc chín th́ nhân đường bánh trôi ở giữa đỏ thắm như son: ví với người con gái dù có long đong ba ch́m bảy nổi, vẫn giữ tấm ḷng thành thực trong t́nh yêu.


Hồ Xuân Hương
Bọn Đồ Dốt

Dắt díu nhau lên đến cửa chiền,
Cũng đ̣i học nói, nói không nên.
Ai về nhắn bảo phường ḷi tói,
Muốn sống, đem vôi quét trả đền


Hồ Xuân Hương
Cảm cựu kiêm tŕnh Cần chánh học sĩ Nguyễn hầu Hầu Nghi Xuân Tiên Điền nhân

Dặm khách muôn ngh́n nỗi nhớ nhung,
Mượn ai tới đấy gửi cho cùng.
Chữ t́nh chốc đă ba năm vẹn,
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không.
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập,
Phấn son càng tủi phận long đong.
Biết c̣n mảy chút sương siu (1) mấy
Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong.

sương siu = vấn vương

Hồ Xuân Hương
Cảnh Làm Lẻ

Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng,
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung!
Năm th́ mười họa, nên chăng chớ,
Một tháng đôi lần, có cũng không ...
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hỏng,
Cầm bằng làm mướn, mướn không công.
Thân này ví biết dường này nhỉ,
Thà trước thôi đành ở vậy xong.

Hồ Xuân Hương
Cảnh Thu

Thánh thót tầu tiêu mấy giọt mưa,
Bút thần khôn vẽ cảnh tiếu sơ,
Xanh om cổ thụ tṛn xoe tán,
Trắng xoá tràng giang phẳng lặng tờ.
Bầu dốc giang sơn say chấp rượu,
Túi lưng phong nguyệt nặng v́ thơ
Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ,
Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ.

Có sách gán cho Bà huyện Thanh Quan. ở văn bản Landes 1893, bài thơ này không có đầu đề. Câu thứ hai là 'Đố ai vẽ được cảnh tiếu sơ' và có lời dẫn: "Ngày xưa Xuân Hương đi chơi gặp mưa, vào chơi thăm làng Văn Giáp, thấy có một chùa xưa, Xuân Hương và chùa lậy Phật, rồi đi xem ngoài chùa. Thấy bên chùa có cây đa. Ngửng lên xem th́ cao ngút không biết tới đâu, cho nên làm bài thơ này (cây đa này đến này c̣n)"
ở bản Đông châu 1917, có lời dẫn: "Một ngày kia đang mùa quư thu, giời lún phún dăm ba hạt mưa, hơi ngăm ngăm rét, quan phủ nhân vô sự, mới sai bày cuộc rượu, cho gọi cô hai ra cùng ngồi uống rượu để vịnh thơ. Xuân Hương vâng lời ra ngồi hầu rượu để vịnh thơ. Xuân Hương vâng lời ra ngồi hầu rượu. Đương khi chén quỳnh đầu vơi, chiều thu hiu hắt, quan phủ liền bảo Xuân Hương vịnh bài tức cảnh. Thơ rằng..."

Hồ Xuân Hương
Câu Đối Tết
Tối ba mươi khép cánh càn khôn, đóng chặt lại kẻo ma vương đưa quỉ tới

Sáng mồng một lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ rước xuân vào

Hồ Xuân Hương
Chiếc Bách

Chiếc bách(1) buồn về phận nổi nênh,
Giữa ḍng ngao ngán nỗi lênh đênh.
Lưng khoang t́nh nghĩa dường lai láng,(2)
Nửa mạn phong ba luống bập bềnh.(3)
Cầm lái mặc ai lăm đỗ bến,(4)
Dong lèo thây kẻ rắp xuôi ghềnh.(5)
ấy ai thăm ván cam ḷng vậy,(6)
Ngán nỗi ôm đàn những tấp tênh!(7)

(1) Chiếc bách: Chiếc thuyền gỗ bách trong văn học gợi h́nh ảnh tâm trạng một người hoá trẻ với bài thơ Bách chu trong Cổ thi.
(2)-(3) T́nh và nghĩa vẫn đương c̣n chan hoà dào dạt. Sóng gió vẫn cứ đe doạ liên tiếp vỗ vào bên ngoài mạn thuyền. Tâm trạng chung của bốn câu đều là buồn rầu ngao ngán cho thân phận.
(4)-(5) Dự định của ai lăm le cầm lái để đưa thuyền đậu vào bến, cũng như của kẻ rắp tâm dong lèo để cho cánh buồm vượt qua ghệnh thác mà trôi xuôi cũng thây mặc, v́ nhà thơ không quan thiết.
(6)-(7) C̣n ai nữa là người sẽ t́m đến với ḿnh (thăm ván)? Nếu việc ấy xảy ra th́ cũng cam ḷng. Mặc dầu cũng chẳng hay ǵ với chuyện tập tễnh ôm đàn sang thuyền người khác, song t́nh thế cũng không thể khác được.
Cổ thi có câu: "Khẳng bả tỳ bà quá biệt thuyền" nghĩa là không chịu ôm đàn tỳ bà sang thuyền người khác, để nói việc không chịu lấy chồng khác. Tục ngữ "Thăm văn bán thuyền" ở đây vận dụng chỉ có nghĩa là "người mới", không giữ ư "có mới nới cũ".

Hồ Xuân Hương
Chơi Chợ Chùa Thầy

Hoá công xây đắp đă bao đời,
Nọ cảnh Sài Sơn có chợ Trời. (1)
Buổi sớm gió đưa, trưa nắng đứng,
Ban chiều mây họp, tối trăng chơi.
Bầy hàng hoa quả tư mùa sẵn,
Mở phố giang sơn bốn mặt ngồi.
Bán lợi mua danh nào những kẻ,
Chẳng lên mặc cả một đôi lời.

(1) Có bản chép:
Khen thay con Tạo khéo trêu ngươi.
Bày đặt ra nên cảnh chợ Trời!

Hồ Xuân Hương
Chơi Đền Khán Xuân

Êm ái chiều xuân tới khán đài,
Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai!
Ba hồi triêu mộ chuông gầm sóng,
Một vững tang thương nước lộn trời.
Bể ái ngh́n trùng khôn tát cạn,
Nguồn ân muôn trượng dễ khơi vơi.
Nào nào cực lạc là đâu tá,
Cực lạc là đây chín rơ mười.

Hồ Xuân Hương
Chơi Hồ Tây nhớ bạn
Phong cảnh Tây Hồ chẳng khác xưa
Người đồng châu trước biết bao giờ
Nhật Tân đê lở nhưng c̣n lối
Trấn Bắc rêu phong vẫn ngấn thơ
Nọ vực Trâu Vàng trăng lạt bóng
Ḱa non Phượng Đất khói tuôn mờ
Hồ kia thăm thẳm sâu dường mấy
So dạ hoài nhân chửa dễ vừa.

Hồ Xuân Hương
Chùa Quán Sứ

Quán sứ sao mà cảnh vắng teo,
Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo?
Chày ḱnh tiểu để suông không đấm,
Tràng hạt văi lần đếm lại đeo.
Sáng banh không kẻ khua tang mít,
Trưa trật nào người móc kẽ rêu.
Cha kiếp đường tu sao lắt léo,
Cảnh buồn thêm ngán nợ t́nh đeo.

Hồ Xuân Hương
Chùa Xưa

Thày tớ thung dung dạo cảnh chùa,
Thơ th́ lưng túi, rượu lưng hồ.
Cá khe lắng kệ, mang nghi ngóp,
Chim núi nghe kinh, cổ gật gù.
Then cửa từ bi chen chật cánh,
Nén hương tế độ cắm đầy lô.
Nam mô khẽ hỏi nhà sư tí,
Phúc đức như ông được mấy bồ?

Hồ Xuân Hương
Con Cua

Em có mai xanh, có yếm vàng,
Ba quân khiêng kiệu, kiệu nghêng ngang.
Xin theo ông Khổng về Đông Lỗ,
Học thói Bàn Canh nấu chín Thang.

Hồ Xuân Hương
Con ốc nhồi

Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi
Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi,
Quân tử có thương th́ bóc yếm
Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi

Hồ Xuân Hương
Đá ông Chồng bà Chồng (1)

Khéo khéo bày tṛ tạo hoá công,
Ông Chồng đă vậy lại Bà Chồng.
Tầng trên tuyết điểm phơ đầu bạc,
Thớt dưới sương pha đượm má hồng.
Gan nghĩa dăi ra cùng nhật nguyệt,
Khối t́nh cọ măi với non sông.
Đá kia c̣n biết xuân già giặn,(2)
Chả trách người ta lúc trẻ trung.

(1) Hiện vẫn chưa rơ xuất xứ của đá, chỉ mới nghe truyền ngôn.
(2) Xuân già giặn, có nghĩa là già giặn t́nh xuân. Hồ Xuân Hương tỏ ra rất rộng lượng với tuổi trẻ.

Hồ Xuân Hương
Đánh Cờ

Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc,
Đốt đèn lên đánh cuộc cờ người.
Hẹn rằng đấu trí mà chơi,
Cấm ngoại thuỷ không ai được biết.
Nào tướng sĩ dàn ra cho hết,
Để đôi ta quyết liệt một phen.
Quân thiếp trắng, quân chàng đen,
Hai quân ấy chơi nhau đà đă lửa.
Thọat mới vào chàng liền nhảy ngựa,
Thiếp vội vàng vén phứa tịnh lên.
Hai xe hà, chàng gác hai bên,
Thiếp thấy bí, thiếp liền ghểnh sĩ.
Chàng lừa thiếp đương khi bất ư,
Đem tốt đầu dú dí vô cung,
Thiếp đang mắc nước xe lồng,
Nước pháo đă nổ đùng ra chiếu.
Chàng bảo chịu, thiếp rằng chẳng chịu
Thua th́ thua quyết níu lấy con.
Khi vui nước nước non non,
Khi buồn lại giở bàn son quân ngà.

Hồ Xuân Hương
Đánh Đu

Bốn cột khen ai khéo khéo trồng,(1)
Người th́ lên đánh kẻ ngồi trông,
Trai đu gối hạc khom khom cật
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa ḷng.
Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới,
Hai hàng chân ngọc duỗi song song.
Chơi xuân có biết xuân chăng tá. (2)
Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không!(3)

(1) Bốn cột: Bốn cây tre trồng làm cây đu.
(2) Chơi xuân: Cuộc vui chơi đón xuân. Biết xuân: Biết t́nh xuân.
(3) Cuối vụ chơi xuân, các cột đu lại nhổ đi hết, chỉ c̣n trơ lại các lỗ cọc và rồi người ta sẽ lấp đi. Hồ Xuân Hương chua chát nói về thói vô tâm rất đáng trách về phía nam giới.

Hồ Xuân Hương
Đề đền Sầm Nghi Đống (1)

Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo,
Ḱa đến thái thú(2) đứng cheo leo.
Ví đây đổi phận làm trai được,
Th́ sự anh hùng há bấy nhiêu!

(1) Đền Sầm Nghi Đống trước ở ngơ Sầm Công nay là phố Đào Duy Từ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nộị Sầm Nghi Đống là tướng theo Tôn Sĩ Nghị sang ta chiếm đóng thủ đô Đông Kinh (Thăng Long). Nghị bị vua Quang Trung đánh đuổi về Tàu năm 1789. Sầm Nghi Đống chạy không kịp, thắt cổ tự tử ở nơi mà sau khi quan hệ bang giao đă trở lại b́nh thường vua Quang Trung cho phép Hoa kiều ở Hà Nội lập đền thờ.
(2) Thái thú: Đống làm tri huyện, khi sang Đông Đô được Tôn Sĩ Nghị cho làm chức thái thú.

Hồ Xuân Hương
Đề Tranh Tố Nữ

Hỏi bao nhiêu tuổi hỡ cô ḿnh?
Chị cũng xinh mà em cũng xinh
Đôi lứa như in tờ giấy trắng.
Ngh́n năm c̣n măi cái xuân xanh.
Xiếu mai chi dám t́nh trăng gió, (1)
Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh, (2)
C̣n thú vui kia sao chẳng vẽ,
Trách người thợ vẽ khéo vô t́nh.

(1)-(2). Xiếu mai; (Quả mai rụng). Trong Kinh thi nói " quả mai rụng mười phần c̣n bảy... mười phần c̣n ba" , ví người con gái đă muộn th́, cần có một người chồng. Câu này dùng chữ " Xiếu mai" để nói người con gái sợ lỡ th́ nên chuyên tâm vào việc kén chồng, không dám nghĩ đến chuyện trăng hoa nữa. Nhưng người đẹp trong tranh th́ tính sao được việc chồng con? Nên cứ đành măi măi giữ thân phận mỏng manh, son sẻ. (Chú thích phần thơ nôm do Nguyễn Bỉnh Khôi).

Hồ Xuân Hương
Đêm thu nhớ Mai Sơn Phủ

Lá ngọc chiều thu giận hẳn du
Tuần trăng sẽ nhớ bữa đêm thu.
Bên am Nhất Trụ trông c̣n đấy,
Ngọn nước Tam Ḱ chảy lại đâu(1)
Son phấn trộm mừng duyên để lại,
Bèo mây thêm tủi phận về sau.
Trăm năm biết có duyên thừa nữa,
Cũng đỏ tay tơ cũng trắng đầu.

1. Nguyên chú: "Đă giải kết đưa t́nh" Giải kết, theo Đào Duy Anh, là: "Cởi mối t́nh kết buộc với nhau" C̣n giải kết đưa t́nh là ǵ? Chưa rơ lắm.

Hồ Xuân Hương
Đền Trấn Quốc

Ngoài cửa hành cung cỏ dăi dầu,
Chạnh niềm cố quốc nghĩ mà đau!
Một ṭa sen lạt hơi hương ngự,
Năm thức mây phong điểm áo chầu.
Sóng lớp phế hưng coi vẫn rộn.
Chuông hồi kim cổ lắng càng mau.
Người xưa, cảnh cũ đâu đâu tá?
Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu.

Hồ Xuân Hương
Đèo Ba Dọi (1)

Một đèo, một đèo, lại một đèo,
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.
Cửa con đỏ loét tùm hum nóc,
Ḥn đá xanh ŕ lún phún rêu.
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,
Đầm đ́a lá liễu giọt sương gieo.
Hiền nhân quân tử ai là chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.

(1) Đèo Ba Dọi hay Ba đèo tên chữ là đèo Tam Điệp, thuộc huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Không phải Đèo Ngang như có sách đă nhầm.

Hồ Xuân Hương
Dệt Cửi

Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau,
Con c̣(1) mấp máy suốt đêm thâu.
Hai chân đạp xuống năng năng nhắc,
Một suốt(2) đâm ngang thích thích mau.
Rộng hẹp nhỏ to vừa vặn cả,
Ngắn dài khuôn khổ cũng như nhau.
Cô nào muốn tốt ngâm cho kỹ(3)
Chờ đến ba thu mới dăi màu.(4)

(1) Con c̣: Con c̣ đặt ở trên và chính giữa khung dệt để thắng sợi, làm chuẩn mực cho cái go khỏi lệch theo.
(2) Suốt: ống suốt cuốn chỉ, nằm trong ruột con thoi để nhả sợi.
(3) Ngâm cho kỹ: Sợi vải hồ bằng nước cơm đem ngâm lâu cho bền và óng màu hồ.
(4) Chờ đến nắng hanh của ba tháng thu, nhấn nâu đem dăi nhiều lượt th́ vải nhuộm mới lên màu và sẫm dần lại.

Hồ Xuân Hương
Dỗ người đàn bà khóc chồng

Văng vẳng tai nghe tiếng khóc chồng
Nín đi kẻo thẹn với non sông.
Ai về nhắn nhủ đàn em bé,
Xấu máu th́ khem miếng đỉnh chung(1)

(1) Tục ngữ có câu: "Xấu máu đừng thèm ăn của độc" Khem: ăn kiêng khi mới ở cữ nên thường nói kiêng khem hoặc kiêng cữ. Miếng đỉnh chung: của ngon vật lạ thường có ở những nơi quyền quí cao sang. ư cả câu: Nếu đă xấu máu mà gặp phải của ngon vật lạ có thèm quá không nhịn được th́ dùng ít thôi! Dỗ dành khuyên nhủ và nói bỡn.

Hồ Xuân Hương
Động Hương Tích (1)

Bày đặt ḱa ai khéo khéo pḥm(2)
Nứt ra một lỗ hỏm ḥm ḥm.
Người quen cơi Phật chen chân xọc,
Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt ḍm.
Giọt nước hữu t́nh rơi thánh thót,(3)
Con thuyền vô trạo cúi lom khom.(4)
Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại,(5)
Rơ khéo trời già đến dở dom.

(1) Động Hương Tích: Động chính của chùa Hương trước thuộc huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông, nay là huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây.
(2) Khéo pḥm: Như khéo phạm, thật là khéo!
(3) Giọt nước... rơi: Các thạch nhũ trên cửa động luôn từng giọt rỏ xuống.
(4) Ṿm động có những chạm vẽ của thiên nhiên được h́nh dung ra cảnh trí như mặt trăng, con thuyền v.v... Vô trạo: Không có bơi chèo.
(5) Nơi rừng suối (lâm truyền) mà cuốn hút lại đây cả một cảnh phồn hoa đô hội.

Hồ Xuân Hương
Đồng Tiền Hoẻn

Cũng ḷ cũng bể, cũng cùng than,
Mở mặt vuông tṛn với thế gian.
Kém cạnh cho nên mang tiếng hoẻn,
Đủ đồng ắt cũng đóng nên quan.

Hồ Xuân Hương
Duyên Kỳ Ngộ

Ngh́n dặm có duyên sự cũng thành, (1)
Xin đừng lo lắng hết xuân xanh.
Tấc gang tay họa thơ không dứt,
Gần gụi cung dương lá vẫn lành.
Tên sẵn bút đề dường chĩnh chện,
Trống mang dùi cắp đă phanh phanh.
Tuy không thả lá trôi ḍng ngự, (2)
Chim tới vườn đào thế mới xinh.

(1) Do câu "Hữu duyên thiên lư năng tương ngộ" tức có duyên th́ xa ngàn dặm cũng gặp nhau .
(2) Do tích lá thắm đề thơ mà ra, ngày xưa có một cung nữ viết thư thả ḍng sông cho trôi từ trong hoàng thành ra ngoài, hẽ ai vớt được th́ sẽ lấy làm chồng, và Vu Hựu là thanh niên đă được diẽm phúc ấy .

Hồ Xuân Hương
Già Kén Kẹn Hom

Bụng làm dạ chịu trách chi ai,
Già kén kẹn hom ví chẳng sai.
Tiếc đĩa hồng ngâm cho chuột vọc,
Thừa mâm bánh ngọt để ngâu vầy.
Miệng khôn trôn dại đừng than phận,
Bụng ỏng lưng eo chớ trách trời!
Đừng đứng núi này trông núi nọ,
Đói ḷng nên mới phải ăn khoai.

Hồ Xuân Hương
Giếng Nước

Ngơ ngang thăm thẳm tới nhà ông
Giếng tốt thanh thơi, giếng lạ lùng.
Cầu trắng phau phau đôi ván ghép,
Nước trong leo lẻo một ḍng thông.
Cỏ gà lún phún leo quanh mép,
Cá diếc le te lách giữa ḍng.
Giếng ấy thanh tân ai chẳng biết,
Đố ai dám thả nạ ḍng ḍng.

Hồ Xuân Hương
Giễu Quan Hậu

T́nh cảnh ấy, nước non này,
Dẫu không Bồng Đảo cũng tiên đây.
Hoành Sơn mực điểm đôi hàng nhạn,
Thúy lĩnh đen trùm một thức mây.
Lấp ló đầu non vừng nguyệt chếch,
Phất phơ sườn núi lá thu bay.
Hỡi người quân tử đi đâu đó?
Đến cảnh sao mà đứng lượm tay.

Hồ Xuân Hương
Hang Cắc Cớ (1)

Trời đất sinh ra đá một cḥm,
Nứt làm hai mảnh hỏm ḥm hom.
Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn,
Luồng gió thông reo vỗ phập pḥm.
Giọt nước hữu t́nh rơi lơm bơm,
Con đường vô ngạn(2) tối om om.
Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc(3)
Khéo hớ hênh ra lắm kẻ ḍm!

(1) Tên một cái hang ở trong chùa Thầy. Ca dao có câu: "Hội chùa Thầy có hang Cắc Cớ; Trai chưa vợ th́ đến hội này"
(2) Vô ngạn: Không có thành bờ tay vịn.
(3) Xuyên tạc: Xoi và đục thông qua đá.

Hồ Xuân Hương
Hang Thánh Hoá Chùa Thầy (1)

Khen thay con tạo khéo khôn phàm,(2)
Một đố giương ra biết mấy ngoàm.(3)
Lườn đá cỏ leo sở rậm rạp,
Lách khe nước rỉ mó lam nham.
Một sư đầu trọc ngồi khua mơ,
Hai tiểu lưng tṛn đứng giữa am.
Đến mới biết là hang Thánh Hoá,
Chồn chân mỏi gối vẫn c̣n ham!

(1) Tên cái hang trong chùa Thầy. Truyền rằng Từ Đạo Hạnh đă hoá ở đây nên gọi là Thánh Hoá.
(2) Khôn phàm: Như khôn phạm.
(3) Đố ngoàm: Thành ngữ "ngoàm nào đố ấy" nói về cách kiến trúc nhà ở xưa: Một mảnh đố tre th́ ngoạm tre; đố gỗ th́ ngoàm gỗ. Một đố nhiều ngoàm ở đây nói về cấu tạo hang động tự nhiên. Nếu coi cả vách động là một đố, th́ ṿm động với các hơm to, nhỏ là những ngoàm.

Hồ Xuân Hương
Họa Lại Thơ Mai Sơn Phủ

Này đoạn chung t́nh biết mấy nhau,
Tiễn đưa ba bước cũng nên câu.
Trên tay khép mở tanh chiếu nhạn,
Trước mặt đi về gấp bóng câu.
Nước mắt trên hoa là lỗi cũ.
Mùi hương trong nệm cả đêm ngâu.
Vắng nhau mới biết t́nh nhau lắm,
Này đoạn chung t́nh biết mấy nhau.

Hồ Xuân Hương
Họa Tốn Phong Nguyên Vận (1)

Kiếp này chẳng gặp nữa th́ liều,
Những chắc trăm năm há bấy nhiêu.
Nghĩ lại huống đau cho phận bạc,
Nói ra thêm nhẹ với thân bèo.
Chén thề thủa nọ tay c̣n dính,
Món tóc thời xưa cánh vẫn đeo.
Được lứa tài t́nh cho xứng đáng,
Ngh́n non muôn nước cũng t́m theo.

(1) Họa nguyên vần thơ ông Tốn Phong.

Hồ Xuân Hương
Hỏi Cô Hàng Sách

Cô hàng lấy sách cắp ra đây!
Xem thử truyện nào thú lại say.
Nữ tú có bao xin xếp cả,
Phương hoa phỏng liệu có c̣n hay ...?
Tuyển phu mặc ư t́m cho kỹ,
Chinh phụ thế nào bán lấy may.
Kỳ ngộ bích câu xin tiện hỏi,
Gía tiền cả đó tính sao vay.

Hồ Xuân Hương
Hỏi Trăng (1)
Một trái trăng thu chín mơm ṃm,
Nảy vừng quế đỏ(1) đỏ ḷm lom!
Giữa in chiếc bích(2) khuôn c̣n méo,
Ngoài khép đôi cung(3) cánh vẫn kḥm.
Ghét mặt kẻ trần đua xói móc,
Ngứa gan thằng Cuội đứng lom khom.(4)
Hỡi người bẻ quế(5) rằng ai đó,
Đó có Hằng Nga(6) ghé mắt ḍm.

(1) Quế đỏ: Huyền thoại nói trong mặt trăng có cây quế đỏ.
(2) Chiếc bích: Chiếc ngọc bích h́nh tṛn dẹt, giữa có lỗ, người ta gọi mặt trăng là bích nguyệt.
(3) Người ta thường ví đường cong của mặt trăng như người tráng sĩ giương cánh cung.
(4) Ca dao: "Thằng Cuội ngồi gốc cây đa; Để trâuăn lúa gọi cha ời ời..." ở đây v́ tức tối nên thằng Cuội không ngồi mà đứng.
(5) Bẻ cành quế đỏ (đan quế) trên cung trăng, chỉ người thi đỗ tiến sĩ.
(6) Hằng Nga: Huyền thoại nói Hằng Nga vợ Hậu Nghệ ăn trộm thuốc tiên của chồng do bà Tây Vương mẫu cho, rồi một ḿnh trốn lên ở cung trăng.

Hồ Xuân Hương
Hỏi Trăng II
Trải mấy thu nay vẫn hăy c̣n,
Cớ sao khi khuyết lại khi tṛn.
Hỏi con bạch thố đà bao tuổi,
Hở chị Hằng Nga đă mấy con?
Đêm tối cớ chi soi gác tía?
Ngày xanh c̣n thẹn với vừng son.
Năm canh lơ lửng chờ ai đó?
Hay có t́nh riêng với nước non?

Hồ Xuân Hương
Kể ư ḿnh và tŕnh bạn Mai Sơn Phủ

Hoa xiêu xiêu
Cây xiêu xiêu
Giấc mộng t́nh quê(1) thảy tịch liêu
Đêm xuân cảm khái nhiều.

Hươu ao ao
Nhạn ngao ngao
Vui sướng hẹn nhau một sớm nào
Tả hết được t́nh sao!

Sông bát ngát
Nước ào ạt
ư thiếp ḷng chàng cũng vu khoát
Lệ rơi thêm mặn chát.

Thơ da diết
Ḷng thê thiết
Đậm nhạt tấc ḷng ai thấu hết
Liệu bút chàng tả xiết?

Mây lang thang
Trăng mênh mang
Trăng gió xui ai luống đoạn tràng
Đâu là gác Đằng Vương

Mây tơ vương
Nước như sương
Mây nước trôi đâu chỉ một đường
Một đường xa khuất rộn ḷng thương

Ngày chậm ŕ
Đêm chậm ŕ
Sáng tối chạnh buồn lữ khách si
Nhớ thương đừng lỡ hẹn, sai ḱ.

Mưa trôi đi
Gió trôi đi
Mưa gió giục hoài cất bút thi (thơ)
Viết thi gửi tới khách "t́nh si"

Chàng có tâm
Thiếp có tâm
Mồng hồn lưu luyến bóng hoa râm
Thơ cùng ngâm
Rượu cùng trăng

Tự lúc buồn chia biệt
Ai người ấm nửa chăng?
Chớ đàn li khúc oán tri âm,
Đành xem như hết tiếng dao cầm(2)
Hẹn nhau nơi non nước muộn mằn!
Chớ buồn mà than thở cổ câm(kim).

Chàng hẹn ǵ
Ta hẹn ǵ
Hai ta đều muộn, nói mà chi
Trà mà chi
Bút mà chi
Cũng là thiến lí cả(3)
Ai là kẻ t́nh nhi
Hiểu nhau trong dạ khó khăn ǵ
Hăy nên trao gửi mối duyên đi
Ḷng son ai nỡ phụ giai ḱ

(Theo điệu Giang Nam)
Đ.T.T dịch

(1) Ḷng quê là ḷng nhớ quê ḿnh. Vậy h́nh như Sơn Phủ đă đi về quê Xuân Hương. Hoặc là người cùng làng, hay cùng huyện chăng? (Hoàng Xuân Hăn).
(2) Dao cầm: Đàn quư.
(3) Thiên lí: Dịch từ chữ "bút thiệt" - bút viết và lời nóị Dương Tử nói: "Cuốn sách do bút mà thành. Lời nói do lưỡi mà có. Ta xem "Ngũ thường" là bút và lưỡi của đế vương". Ngũ thường ở đây là các quan hệ: quân thần, phục tử, phu-phụ, huynh đệ, bằng-hữu. V́ thế dịch là thiên lí.


Hồ Xuân Hương
Kẽm Trống

(1)

Hai bên th́ núi giữa th́ sông.
Có phải đây là kẽm Trống Không?
Sóng dồn mặt nước vỗ long bong.
ở trong hang núi c̣n hơi hẹp,
Ra khỏi đầu non đă rộng thùng.
Qua cửa ḿnh ơi! Nên ngắm lại,(2)
Nào ai có biết nỗi bưng bồng(3)

(1) Kẽm Trống ở huyện Kim Bảng, phủ Lư Nhân, tỉnh Hà Nam, nay thuộc Nam Hà. Kẽm: Hẻm giữa hai sường núi dốc, giữa có lối đi.
(2)-(3) Bồng: Tên một thứ trống. Trong lễ hội xưa có điệu múa trống gọi là múa con đĩ (gái) đánh bồng.

Hồ Xuân Hương
Khóc chồng làm thuốc

Văng vẳng tai nghe tiếng khóc ǵ
Thương chồng nên khóc tỉ t́ ti.
Ngọt bùi thiếp nhớ mùi cam thảo(1)
Cay đắng chàng ơi vị quế chi.(2)
Thạch nhũ, trần b́ sao để lại,(3)
Quy thân, liên nhục tấm mang đi.(4)
Dao cầu thiếp biết trao ai nhỉ(5)
Sinh kư chàng ơi! Tử tắc quy.(6)

(1) Cam thảo: Cỏ ngọt, tên vị thuốc ta.
(2) Quế chi: Cành quế vị cay, tên thuốc ta.
(3)-(4) Thạch nhũ nghĩa đen là vú đá; Trần b́: vỏ quít khô, đều dùng làm thuốc. Quy thân: Vị đương quy có ba phần: đầu, thân và đuôi, có tính dược khác nhau; quy thân là phần củ của đương quỵ Liên nhục: Hạt sen, cũng dùng làm thuốc; V́ ông chồng là lang thuốc nên tác giả dùng những tên vị thuốc. ư hai câu: Giờ th́ kẻ mất người c̣n, "của anh anh mang, của nàng nàng xách". Bỡn cợt bà lang là ở hai câu này.
(5)-(6) Dao cầu: Dao dùng riêng trong nghề thuốc, tác dụng thái thuốc mạnh và nhanh hơn dao thường. Sinh kư tử quy: Sống gửi thác về. ở đây tác giả vận dụng linh hoạt thành ngữ này. Người phụ nữ goá trẻ này nếu không ở vậy được mà phải qua hai lần đ̣ "th́ kỷ vật này sẽ trao lại cho aỉ Chàng ơi! Trong cuộc sống tạm bợ này, chỉ có lúc chết đi th́ mới có thể về nơi ở măi măi cùng chàng được".


Hồ Xuân Hương
Khóc ông Phủ Vĩnh Tuờng

Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ôi!(1)
Cái nợ ba sinh đă trả rồi(2)
Chôn chặt văn chương ba tấc đất(3)
Tung hê hồ thỉ bốn phương trời.(4)
Cán cân tạo hoá rơi đâu mất?(5)
Miệng túi tàn khôn khép lại rồi.(6)
Hăm bảy tháng trời đà mấy chốc.(7)
Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ôi!

(1) Vĩnh Tường: Phủ Vĩnh Tường, thuộc tỉnh Vĩnh Yên xưa, nay thuộc tỉnh Vĩnh Phú. Nhiều giai thoại đều thống nhất về việc Hồ Xuân Hương có lấy lẽ ông phủ Vĩnh Tường.
(2) Nợ ba sinh: Nhân duyên vợ chồng trải qua ba kiếp; sống là một sự trả nợ lẫn nhau (theo Phật giáo). Nợ ba sinh đă trả tức là chỉ người chồng đă chết.
(3)-(4) Ông phủ Vĩnh Tường là một người có học vấn (văn chương) nay mất đi, Hồ Xuân Hương mất một người chồng và cũng mất luôn cả một người bạn văn chương. Hồ thỉ: cung và tên, tượng trưng cho chí nam nhi hoặc chí làm trai vốn ở bốn phương trời, không chỉ thu hẹp trong phạm vi gia đ́nh vợ con.
(5)-(6) Ông trời là người cầm cân nảy mực đă ở chẳng công bằng, cán cân của ông đă đánh rơi. Càn khôn tức trời đất ví như một cái túi lớn đă khép hẳn lại. Ông Phủ đă đi sang một thế giới khác.
(7) Hồ Xuân Hương sống với chồng trong một thời gian quá ngắn: 27 tháng.


Hồ Xuân Hương
Khóc Tổng Cóc

Chàng Cóc ơi! Chàng Cóc ơi!
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi.
Ṇng nọc đứt đuôi từ đây nhé,(1)
Ngh́n vàng khôn chuộc dấu bôi vôi!(2)

(1)-(2) "Đứt đuôi ṇng nọc", thành ngữ chỉ sự cắt đứt hẳn; "Cóc bôi vôi lại về": Bôi vôi để đánh dấu vào cóc, th́ cóc đi đâu rồi cũng lại trở về. Nhưng nay duyên vợ chồng đă đứt hẳn. Cóc đi đă đem theo cả dấu vôi, dẫu có ngh́n vàng cũng không chuộc lại được v́ mất Cóc là mất luôn cả dấu.
Theo cụ Dương Văn Thâm sưu tầm tài liệu về giai thoại thơ Hồ Xuân Hương (tài liều đă dẫn) th́ Hồ Xuân Hương làm bài Khóc tổng Cóc trong thời gian đă lấy ông phủ Vĩnh Tường. Do sự rẽ duyên của người vợ cả và gia đ́nh họ hàng nhà Cóc, nên Hồ Xuân Hương mới đưa cả họ hàng nhà Cóc vào bài thơ để giễu: nhái bén, chẫu chàng, ṇng nọc, chẫu chuộc, tất nhiên là giễu một Tổng Cóc c̣n sống, chứ không phải là khóc khi Tổng Cóc chết, như bấy nay có người hiểu, e rằng bất nhẫn.

Hồ Xuân Hương
Không chồng mà chửa

Cả nể cho nên hoá dở dang,
Nỗi niềm nàng có biết chăng chàng.
Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc,(1)
Phận liễu sao đà nảy nét ngang.(2)
Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa?(3)
Mảnh t́nh một khối thiếp xin mang.(4)
Quản bao miệng thế lời chênh lệch,
Không có, nhưng mà có, mới ngoan!

(1)-(2) ở đây, dùng lối chơi chữ Hán. Chữ Thiên là trời nhô đầu lên th́ thành chữ Phu là chồng; chữ Liễu là rơ hoặc hết, đồng âm với cây liễu chỉ người con gái, nếu thêm một nét ngang th́ thành chữ Tử là con. Hai câu này ư nói: Gái chưa chồng mà sao đă có con trong bụng?
(3)-(4) T́nh và nghĩa gắn liền đặc tính truyền thống của tạ Hồ Xuân Hương nhấn mạng cái nghĩa, cái trách nhiệm mà người đàn ông nào đó thường vô tâm trước hậu quả để lại cho người phụ nữ.
(5) Tác giả đứng về phía người con gái mà dùng ư một câu ca dao: "Không chồng mà chửa mới ngoan; Có chồng mà chửa thế gian sự thường"!

Hồ Xuân Hương
Kiếp Lấy Chồng Chung

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng,
Năm th́ mười hoạ chăng hay chớ
Một tháng đôi lần có cũng không.
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm,(1)
Cầm bằng làm mướn, mướn không công.(2)
Thân này ví biết dường này nhỉ(3)
Thà trước thôi đành ở vậy xong.

(1)-(2) Vận dụng các thành ngữ " Cố đấm ăn xôi" , " Làm mướn không công" .
(3) Dường này: nông nổi cụ thể ra đến thế này.

Hồ Xuân Hương
Lời thề từ Cảm Xúc

Mười mấy năm trời một chữ t́nh
Duyên tơ này đă sẵn đâu đành
Mái mây cắt nửa nguyền phu phát
Giọt máu đầy hai chén tử sinh
Một kiếp đă tể cùng dạ thắm
Trăm năm đừng phụ với đầu xanh
Mai sau ḷng chẳng như lời nữa
Dao búa nguyền xin luỵ đến ḿnh.

Hồ Xuân Hương
Mắng học tṛ dốt I
(1)
Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ?
Lại đây cho chị dạy làm thơ,
Ong non ngứa nọc châm hoa rữa
Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa.

(1) Bọn học tṛ mới lớn, ngốc nghếch, rủ nhau kéo đàn kéo lũ đi ghẹo gái, lại tập tọng đua đ̣i vần vè ví von, nên Hồ Xuân Hương lấy làm khó chịu mà viết bài thơ này.

Hồ Xuân Hương
Mắng học tṛ dốt II

Dắt díu nhau lên đến cửa chiền,
Cũng đ̣i học nói nói không nên.
Ai về nhắn bảo phường ḷi tói,
Muốn sống đem vôi quét trả đền!

Hồ Xuân Hương
Mắt Toả Sắc Xanh

Bể xanh lấp loáng tận trời xa,
Đây ngỡ màu xanh mắt tỏa ra.
Nước bạc mài nên ngh́n mũi kiếm,
Đầm im rơi xuống một sao sa.
Quái h́nh chưa dễ đề khoa bảng,
Thần lực đâu đà tạc tượng ma.
Phảng phất mây rà đầu xẩm tối,
Cao tăng đang tụng chốn chiền già.

(1) Loa đại: là một thứ bột màu lam xưa dùng để chế thử mực xanh vẽ lông mày. Tác giả cố ư dùng chữ loa ở đây v́ nghĩa nó là ốc.
(2) ư câu này là: đến đây, nh́n đâu cũng thấy màu, ḿnh có cảm tưởng chính mắt ḿnh phát màu xanh ra, chứ không phải vật ngoài có màu ấy.
(3) Nước bạc: trỏ nước bể thường có sóng bạc, chứ không phải trỏ riêng sóng. Sóng vỗ vào chân lèn làm hỏm chân, chứ không mài nhọn đá.
(4) Sao sa: nếu vế này tả cảnh ban ngày th́ phải hiểu rằng mặt nước long lanh phản xạ tia sáng tung toé lên như có sao sa xuống, nếu nghĩ rằng nó tả cảnh ban đêm th́ có lẽ muốn nói sắc lân tinh lậploè trên mặt nước.
(5) Tam giáp: trỏ ba bậc đậu thi đinh thời xưa (Nhất giáp có ba nấc: Trạng nguyên, Bảng nhăn và Thám hoa; Nhị giáp tức là Hoàng giáp; Tam giác tức là Tiến sĩ).
(6) Ngũ Đinh: tên một lực sĩ trong thần thoại. Tương truyền đời xưa vua Tần hiến cho vua Thục một gái đẹp. Vua Thục sai lực sĩ Ngũ Đinh đi đón. Trên đường thấy một con rắn lớn, ḅ vào hang đá. Ngũ Đinh đuổi theo, bị đá sập đè chết. Sau bị hoá ra tượng đá khổng lồ.
Tác giả mượn hai việc liên quan đến tảng đá và tượng đá để ngụ ư đến những h́nh thù vĩ đại, ḱ dị, hùng tráng của các đảo lèn, nhất là khi trời gần tối.

Hồ Xuân Hương
Miếng Trầu
(1)

Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi(2)
Này của Xuân Hương mới quệt(3) rồi
Có phải duyên nhau th́ thắm lại(4)
Đừng xanh như lá bạc như vôi!

(1) Miếng trầu: Một khẩu trầu gồm ba thành phần chính hợp lại là trầu không, cau và vôi. Vỏ (rễ) và thuốc lào là thành phần phụ gia.
(2) Trầu hôi: Lá trầu không loại xấu, nhỏ lá và có mùi hôi.
(3) Quệt: Quệt vôi vào lá trầu rồi mới têm.
(4) Cau đậu (cau kén), trầu lá to và mỡ, vôi vừa phải, khi ăn th́ đỏ thắm và say. Cau bé, trầu hôi, vôi mặn th́ ăn không đỏ và miếng trầu không ngon. Nhà thơ nói, về cái hẩm hiu của duyên phận.

Hồ Xuân Hương
Một cảnh Chùa

T́nh cảnh ấy, nước non này
Dẫu không Bồng Đảo cũng Tiên đây,
Hành Sơn mực điểm đôi hàng nhạn,
Thức Lĩnh(1) đen trùm một thức mây,
Lấp ló đầu non vừng nguyệt chếch,
Phất phơ sườn núi lá thu bay,
Hỡi người quân tử đi đâu đó,
Thấy cảnh sao mà đứng lượm tay.

ở bản khắc ván 1922 bài thơ này mang tên Quan hậu sợ vợ, Quan hậu. Rơ ràng là hai văn bản này bị ảnh hưởng lời dẫn ở bản Đông châu (1917)
"Bà hậu lở nhà hễ khi nào thấy Quan ông bước chân đi chơi đâu, th́ bà hậu hay hỏi săn đón, biết ư rằng Quan hậu hay ṭ ṃ đến chơi Xuân Hương. Xuân Hương thấy Quan hậu đến chơi thơ thẩn khi nào, tuy rằng mải miết tự t́nh, nhưng xem ra th́ vẫn thường có ư chập chỗm, không vững ḷng ngồi dai. Xuân Hương biết ư như vậy, mới làm một bài để giễu thử chơi. Thơ rằng..."
(1) Thứu lĩnh: Một ḥn núi ở ấn Độ, chỗ Đức Phật ở. Thường gọi là Lĩnh Tựu, có người đọc là Linh Thứu.

Hồ Xuân Hương
Ngụ Ư Tốn Phong, Kí Nhị Thủ
Ngụ ư Tốn Phong, kí nhị thủ (1)

Dồn bước may đâu khéo hẹn ḥ
Duyên chi hay bởi nợ chi ru?
Sương treo(2) áo lục nhồi hơi xạ,
Gió lọt cành lê lướt mặt hồ.
Muốn chắp chỉ đào thêu trướng gấm,
Mà đem lá thắc thả sông Tô.(3)
Trong trần mấy kẻ tinh con mắt,
Biết ngọc mà trao mới kể cho.

II
Đường hoa d́u dặt bước đông phong
Nghĩ kẻ t́m thơm cũng có công,
Lạ mặt dám quen cùng gió nước,
Nặng ḷng nên nhẹ đến non sông.
Da trời nắng nhuộm tươi màu biếc,
Pḥng gấm trăng in dăi thức hồng.
Ai nhớ lấy cho ḷng ấy nhỉ,
Trước năm trăm hẳn nợ chi không?

1) Hai bài ngụ ư gửi Tốn Phong thị. Chưa rơ Tốn Phong thị là ai? Chỉ biết ông họ Phan, v́ trong Bài tựa có câu: " Phan Mĩ Anh người trong họ tôi" và đó là họ nội. C̣n tên, theo giáo sư Hoàng Xuân Hăn, có lẽ là Huân nghĩa là " Nam Phong" (gió Nam) cùng gọi là Tốn Phong. Nham Giác là tên hiệu Nham Giác phu là " anh chàng ẩn ở núi nhưng hiểu sự đời" .
(2) Có bản phiên âm là xoa
(3) Sông Tồ = Sông Tô Lịch ở Thăng Long - Hà nội.


Hồ Xuân Hương
Nguyệt Dạ Ca

Nguyệt như châu hề, lộ như sai
Thúc văng lai hề, chiếu dư hoài
Uyển cố nhân hề, thiên nhai
Ái bất kiến hề, tâm bồi hồi...
Đài hoang Thần nữ miếu
Vân tán Sở vương đài
Minh nguyệt quang như thử
Ngă tư nhân chi hề, yên tại tai.

Hồ Xuân Hương
Nhớ Nguyễn Hầu
(1)
Dặm khách muôn ngh́n nỗi nhớ nhung,
Mượn ai tới đấy gửi cho cùng.
Chữ t́nh chốc đă ba năm vẹn,
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không.
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập,
Phấn son càng tủi phận long đong.
Biết c̣n mảy chút sương siu mấy(2)
Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong.

(1) Nhớ người cũ viết gửi Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu. Sau đầu đề trên, tác giả có chú: "Hầu, Nghi Xuân, Tiên Điền nhân" - "Hầu người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân" - Như vậy, ở đây Nguyễn Hầu đúng là Nguyễn Du tiên sinh - Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền ghi rơ mùa hè năm Kỉ Tỵ (1809), Nguyễn Du được bổ làm cai bạ Quảng B́nh. Tháng 2 năm Quư Dậu (1813) ông được phong Cần chánh điện học sĩ, rồi được cử làm chánh sứ đi Trung Quốc tuế cống.
(2) Sương siu mây: Từ xưa phiên âm là sương đeo mái. Nay phiên âm theo giáo sư Hoàng Xuân Hăn.

Hồ Xuân Hương
Quả Mít

Thân em như quả mít trên cây,
Vỏ nó sù ś, múi nó dày.
Quân tử có yêu th́ đóng cọc,(1)
Xin đừng mân mó nhựa ra tay.

(1) Đóng cọc: Cọc đóng sâu vào nơ quả mít đem phơi nắng cho chóng chín.

Hồ Xuân Hương
Qua vũng Hoa Phong

Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong.
Đá dựng bờ son mọc giữa ḍng.
Ḍng nước lần theo chân núi chuyển,
Ḿnh lèn nghiêng để lối duyềnh thông.
Cá rồng lẩn nấp hơi thu nhạt,
Âu lộ cùng bay bóng xế hồng.
Băm sáu pḥng mây cùng động ngọc,
Đâu nào là cái Thuỷ Tinh cung?

Hồ Xuân Hương
Quán Khánh
(1)
Đứng chéo trông theo cảnh hắt heo,(2)
Đường đi thiên thẹo quán cheo leo.
Lợp lều mái cỏ tranh xơ xác,
Xo kẽ kèo tre đốt khẳng kheo.(3)
Ba chạc cây xanh h́nh uốn éo,
Một ḍng nước biếc cảnh leo teo.
Thú vui quên cả niềm lo cũ,
Ḱa cái diều ai nó lộn lèo.

(1) Quán Khánh: Các công tŕnh nghiên cứu và các văn bản có chú thích đều thống nhất ghi là ở tỉnh Thanh Hoá, song chưa rơ huyện nào.
(2) Hắt heo: Âm chính xác là hắt hiu.
(3) Khẳng kheo: Âm chính xác là khẳng khiu.

Hồ Xuân Hương
Sư bị ong châm
Nào nón tu lờ, nào mũ thâm,
Đi đâu chẳng đội để ong châm?
Đầu sư há phải ǵ... bà cốt,(1)
Bá ngọ con ong bé cái nhầm. (2)

(1)-(2) Vận dụng câu ca dao tiếu lâm đă nhắc đến trong câu thứ 4 bài Quan thị.

Hồ Xuân Hương
Sư hổ mang

Chẳng phải Ngô, chẳng phải ta,
Đầu th́ trọc lốc, áo không tà.
Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm,
Vải núp sau lưng sáu bảy bà.
Khi cảnh, khi tiu, khi chũm choẹ,
Giọng h́, giọng hỉ, giọng hi ha.
Tu lâu có lẽ lên Sư cụ,(1)
Ngất nghểu toà sen nọ đó mà.

(1) Sư cụ: Chủ nhân một ngôi chùa, người có uy tín và cao tuổi hơn cả chỉ có mặt trong các buổi lễ trọng của nhà chùa.

Hồ Xuân Hương
Sư hoang dâm

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo,
Vị ǵ một chút tẻo tèo teo.
Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc(1)
Trát gió cho nên phải lộn lèo.

(1) Tầy trúc: quê hương Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở ấn Độ.
Bài này có ở văn bản khắc ván 1922

Hồ Xuân Hương
Tặng Tốn Phong Tử
(1)
Bướm ong mừng đă mấy phen nay,
Hồng nhạn xin đưa ba chữ lại;
Dám đâu mưa gió giở bàn tay,
Những sự ba đào xeo tấc lưỡi,
Nam Bắc xa xa mấy dặm đây,
Hải sơn ước để ngàn năm măi,
Bức tranh khôn vẽ tấm ḷng ngay.
Tơ nguyệt rày xe ba mối lại,
Hỏi khách đa t́nh nhỏ có hay.
Năm canh hồn bướm thêm bơ bải(2)

(1) Tặng Tốn Phong thị. Dưới đầu đề có ghi rơ "Hoạ vận tai hậu" (hoạ vần ở phía sau), nhưng không thấy bài hoạ.
(2) Bài thơ c̣n như dang dở. Thể thơ ít gặp. Hay là một điệu ca trù nào đó? Hai chữ bơ băi là phiên âm tạm. Chưa rơ nên đọc thế nào cho phải.

Hồ Xuân Hương
Tát Nước

Đang cơn nắng cực chửa mưa tè,
Rủ chị em ra tát nước khe.
Lẽo đẽo chiếc gầu ba góc chụm,
Lênh đênh một ruộng bốn bờ be.
X́ x̣m đáy nước ḿnh nghiêng ngửa,
Nhấp nhỏm bên bờ đít vắt ve.
Mải miết làm ăn quên cả mệt,
Dang bang một lúc đă đầy phè.

Hồ Xuân Hương
Thân phận người đàn bà

Hỡi chị em ơi có biết không
Một bên con khóc một bên chồng.
Bố cu lổm ngồm ḅ trên bùng,
Thằng bé hu hơ khóc dưới hông.
Tất cả những là thu với vén
Vội vàng nào những bống cùng bông.
Chồng con cái nợ là như thế,
Hỡi chị em ơi có biết không?

Hồ Xuân Hương
Thiếu Nữ Ngủ Ngày

Mùa hè hây hẩy gió nồm đông,
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng.
Lược trúc chải cài trên mái tóc,
Yếm đào trễ xuống dưới nương long.
Đôi g̣ Bồng đảo sương c̣n ngậm,
Một lạch Đào nguyên nước chửa thông.
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt,
Đi th́ cũng dở, ở không xong.

Hồ Xuân Hương
Thương

Há dám thương đâu kẻ có chồng,
Thương v́ một nỗi hăy c̣n không.
Thương con cuốc rũ kêu mùa Hạ,
Thương cái bèo non giạt bể Đông.
Thương cha mẹ nhện vương tơ lưới,
Thương vợ chồng Ngâu cách mặt sông.
ấy thương quân tử thương là thế,
Há dám thương đâu kẻ có chồng.

Hồ Xuân Hương
Tốn Phong Đắc Mộng Chí Dữ Ngă Khan

Tốn Phong đắc mộng chí dữ ngă khan
nhân thuật ngâm, tịnh kư(1)

Nhớ ai mà biết nói cùng ai
Rằng chữ đồng ta quyết một hai.
Hoa liễu vui đâu ḿnh dễ khéo,
Non sông dành giả nợ c̣n dài.
Chén t́nh dầu nhẫn lâu mà nhạt
Giải ước nguyền âu thắm chẳng phai.
Đầy đoạ duyên trần thôi đă định,
Xương giang duyềnh(2) để ngắm tương lai.

1)Tốn Phong thị nằm mộng, ghi lại mang cho xem, nhân đó làm bài thơ thuật chuyện và ghi lại.
(2)Có phiên âm là dành

Hồ Xuân Hương
Trách Chiêu Hổ
(1)
Xướng(I)

Anh đồ tỉnh, anh đồ say,
Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày?
Này này chị bảo cho mà biết.
Chốn ấy hang hùm chớ mó tay.

Chiêu hổ hoạ lại

Này ông tỉnh! Này ông say!
Này ông ghẹo nguyệt giữa ban ngày!
Hang hùm ví bẵng(2) không ai mó,
Sao có hùm con bỗng(3) trốc tay?

(1) Cuộc xướng hoạ giữa Hồ Xuân hương và Chiêu Hổ thực là không tiền khoáng hậu trong lịch sử văn chương của ta. Sức khoẻ và t́nh yêu sự sống, văn tài và cá tính, lối nói toạc móng heo, không úp mở bóng gió nhiều, không dùng biểu tượng hai mặt, ít tử vận (vần chết không hoạ được) mà chỉ có lộng chữ (bỡn chữ). Chỉ có ba bài thơ mà đă đi thẳng vào dân chúng và từ lâu đă nảy sinh nhiều giai thoại. Cả đôi bạn đều cân xứng về tài nghệ thơ Nôm, và cũng thật tri âm, tri kỷ, không có một chút ǵ ngăn cách giữa đôi bạn thanh niên nam nữ.
(2) Ví bẵng tức ví bằng, đọc theo âm trắc của thơ.
(3) Bỗng tức là bồng, đọc theo âm trắc của thơ, mới đúng âm luật.

Xướng (II)

Sao nói rằng năm lại có ba?
Trách người quân tử hẹn sai ra.
Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt,
Nhớ hái cho xin nắm lá đa (1)

Chiêu hổ hoạ lại

Rằng gián th́ năm, quí có ba(2)
Bởi người thục nữ tính không ra.
ừ rồi, thong thả lên chơi nguyệt
Cho cả cành đa lẫn củ đa.

(1) Huyền thoại nói: Trên mặt trăng có cây đa và thằng Cuội ngồi dưới gốc. Cuội c̣n là một nhân vật trong truyện cổ dân gian có đặc tính đă trở thành thành ngữ "Nói dối như Cuội". ở đây nhắc chuyện lên chơi cung trăng và Chiêu Hổ sẽ cho Hồ Xuân Hương nắm lá đa, có ư nói Chiêu Hổ cũng chẳng khác ǵ Cuội "nói Cuội".
(2) Tiền gián ăn 36 đồng kẽm. Tiền quư ăn 60. Như vậy 5 đồng gián hay 3 đồng quư đều bằng 180 đồng kẽm. Có thể cách hỏi vay của Hồ Xuân Hương với Chiêu Hổ không giao hẹn rơ ràng, cũng có thể cách trả lời chỉ là chữa khéo cho Chiêu Hổ.

Xướng (III)

Những bấy lâu nay luống nhắn nhe.
Nhắn nhe toan những sự gùn ghè(1)
Gùn ghè nhưng vẫn c̣n chưa dám
Chưa dám cho nên phải rụt rè.

Chiêu Hổ hoạ lại

Hỡi hỡi cô bay tố hăo nhe(2)
Hăo nhe không được, gậy ông ghè.
Ông ghè không được, ông ghè măi,
Ghè măi rồi lâu cũng phải rè.

(1) Gùn ghè: Gạ gẫm.
(2) Tố hăo: Cáo tố hăo huyền. Chúng tôi ghi theo Hồ Xuân Hương, giai thoại thơ, của Sở Văn hoá Vĩnh Phú-1989.
Hai chữ này gắn với cách đá đáp của hai bài hoạ, khác với nhiều bản vẫn chép là "tới bảo".

Hồ Xuân Hương
Tranh Hai Tố Nữ

Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô ḿnh?
Chị cũng xinh mà em cũng xinh.
đôi lứa như in tờ giấy trắng,
Ngh́n năm c̣n măi cái xuân xanh.
Phiếu mai (1) chi dám t́nh trăng gió,
Bồ liẽu (2) thôi đành phận mỏng manh.
C̣n thú vui kia sao chẳng thấy
Trách ông thợ vẽ khéo vô t́nh.

(1) Tức bài thơ "Phiếu Mai" trong Kinh Thi, bài thơ có ư mong đợi của người con gái sợ lỡ tuổi xuân như trái mai rụng dần.
(2) Bồ liẽu tức cây bồ cây liẽu, loại cây mềm yếu thường được dùng để ví với thân h́nh yếu đuối của phụ nữ .

Hồ Xuân Hương
Trống Thủng

Của em bưng bít vẫn bùi ngùi,
Nó thủng v́ chưng kẻ nặng dùi,
Ngày vắng đập tung dăm bảy chiếc,
Đêm thanh tỏm cắc một đôi hồi,
Khi giang thẳng cánh bù khi cúi
Chiến đứng không thôi lại chiến ngồi.
Nhắn nhủ ai về thương lấy với,
Thịt da ai cũng thế mà thôi.

Hồ Xuân Hương
Tự Thán
(1)
I
Con bóng đi về chốc bấy nay,
Chữ duyên nào đă chắc trong tay.
Nghĩ cùng thế sự ḷng như đốt,
Trông suốt nhân t́nh dạ muốn say.
Muôn kiếp biết là duyên trọn vẹn,
Một đời riêng mấy kiếp chua cay.
Nỗi ḿnh nỗi bạn dường bao nả,
Dám hỏi han đâu những cớ này.

II
Lẩn thẩn đi về mấy độ nay
V́ đâu đeo đẳng với nơi vầy
ấm trà tiêu khát c̣n nghe giọng
Chén rượu mừng xuân dạ thấy say
Điểm lữ trông chừng mây đạm nhạt
Ḍng thu xem cỡ nước vơi đầy.
Thương ai hẳn lại thương ḷng lắc
Này nợ này duyên những thế này.

(1) Tự than thân.

Hồ Xuân Hương
Tự T́nh I

Canh khuya văng vẳng trống canh (1) đồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa, say lại tỉnh,
Vừng trăng bóng xế, khuyết chưa tṛn.
Xuyên ngang mặt đất, rêu từng đám,
đâm toạc chân mây, đá mấy ḥn.
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,
Mảnh t́nh xan xẻ tí con con.

(1) Trống canh là tiếng trống cầm canh.

Hồ Xuân Hương
Tự T́nh II

Tự t́nh
Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom(1)
Oán hận trông ra khắp mọi cḥm.
Mơ thảm không khua mà cũng cốc.(2)
Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om(3)?
Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ,
Sau giận v́ duyên để mơm ṃm.
Tài tử văn nhân ai đó tá?
Thân này đâu đă chịu già tom!(4)

(1) Bom: Mỏm đất.
(2)-(3) Mơ và chuông dùng trong nhà chùa có tác dụng làm nguôi dịu ḷng người. Ở đây nhà thơ vận dụng khác. Mơ thảm, chuông sầu: Tiếng ḷng sầu thảm trong đêm khuya vắng lặng không khua không đánh mà vẫn vang lên dữ dội những âm thanh khô khốc, ầm ĩ, cốc như mơ và om như chuông.
(4) Già tom: Như già đanh.Tục ngữ: "Trẻ dôi ra, già co lại".

Hồ Xuân Hương
Tự T́nh III

Chiếc bách (1) buồn v́ phận nổi nênh,
Giữa gịng ngao ngán nỗi lênh đênh.
Lưng khoang t́nh nghĩa dường lai láng,
Nửa mạn phong ba luống bập bềnh.
Cầm lái mặc ai lăm đỗ bến,
Giong lèo thây kẻ rắp xuôi ghềnh.
Ấy ai thăm ván (2) cam ḷng vậy,
Ngán nỗi ôm đàn (3) những tấp tênh.

(1) Tức chiếc thuyền bằng gỗ bách tức gỗ thông, do tích xưa Cung Bá, Thái tử nước Vệ chết sớm, vợ thủ tiết, có làm bài thơ "Thuyền bách" tỏ ư không tái giá, nên thường được dùng để ví người đàn bà góa ở vậy .
(2) Do câu "tham ván bán thuyền" mà ra .
(3) Ư nó khó toàn được nghĩa cũ, ví như ôm cây đàn sang gảy nơi thuyền khác.

Hồ Xuân Hương
Tức Cảnh Tề Sở

Đằng quốc tôi nay vốn nhỏ nhen,
Hai bên Tề Sở giữa mà len,
Ngảnh mặt lại Tề e Sở giận,
Quay đầu về Sở sợ Tề ghen.

Hồ Xuân Hương
Vài Bài Thơ

Lưu biệt thời tại An Quảng,
An Hưng ngụ thứ (1)

Người về người ở khéo buồn sao,
Tức tối ḿnh thay biết lẽ nào.
Tơ tóc lời kia c̣n nữa hết,
Đá vàng ḷng nọ xiết là bao.
Nổi cơn riêng giận ngày giời ngắn,
Mỏi mắt chờ xem bóng nguyệt cao.
Sớm biết lẽ giời lí có hợp,
Th́ mười năm trước bận chi nao.

(1) Ghi lại lúc chia tay tại An Quảng, An Hưng.

Thu nguyệt hữu ức Mai Sơn Phủ kí (1)

Lá ngọc chiều thu giận hẳn du
Tuần trăng sẽ nhớ bữa đêm thu.
Bên am Nhất Trụ trông c̣n đấy,
Ngọn nước Tam Ḱ chảy lại đâu(2)
Son phấn trộm mừng duyên để lại,
Bèo mây thêm tủi phận về sau.
Trăm năm biết có duyên thừa nữa,
Cũng đỏ tay tơ cũng trắng đầu.

(1) Đêm thu, nhớ Mai Sơn Phủ, gởi bài này.
(2) Nguyên chú: " Đă giải kết đưa t́nh" Giải kết, theo Đào Duy Anh, là: " Cởi mối t́nh kết buộc với nhau" C̣n giải kết đưa t́nh là ǵ? Chưa rơ lắm.

Thuật ư kiêm tŕnh hữu nhân Mai Sơn Phủ

Hoa phiêu phiêu,
Mộc tiêu tiêu,
Ngă mộng hương t́nh các tịch tiêu,
Khả cảm thị xuân tiêu.

Lộc ao ao,
Nhạn ngao ngao,
Hoan hảo tương ḱ tại nhất triêu,
Bất tận ngă tâm miêu.

Giang bát bát,
Thuỷ hoạt hoạt,
Ngă tư quân hoài tương khế khoát,
Lệ ngân chiêm hạ cát.

Thi tiết tiết,
Tâm thiết thiết,
Nồng dạm thốn t́nh tư lưỡng đạt,
Dạ bằng quân bút phát.

Phong ngang ngang,
Nguyệt mang mang,
Phong nguyệt không linh khách đoạn tràng,
Hà xứ thị Đằng Vương.

Vân thương thương,
Thuỷ ương ương,
Vân thuỷ na kham vọng nhất trường,
Nhất trường dao vọng xúc hoài mang.
Nhật ḱ ḱ,
Dạ tŕ tŕ,
Nhật dạ thiên hoài lữ tứ bi,
Tứ bi ưng mạc ngộ giai ḱ.

Phong phi phi,
Vũ phi phi,
Phong vũ tần thôi thái bút huy,
Bút huy đô th́ phó t́nh nhi.

Quân hữu tâm,
Ngă hữu tâm,
Mộng hồn tương luyến liễu hoa âm,
Thi đồng ngâm,
Nguyệt đồng châm,
Nhất tự sầu phân nhuệ,
Hà nhân noăn bán khâm,
Mạc đàn li khúc oan tri âm,
Trực tu khí trí thử dao cầm,
Cao sơn lưu thuỷ văn tương tầm,
Ưng bất hận ngâm thán cổ câm.

Quân hà ḱ,
Ngă hà ḱ,
Lữ đ́nh lai đắc lưỡng thê tŕ,
Dánh tần phi,
Bút tần huy,
Nhất trường đô bút thiệt,
Hà xứ thị t́nh nhi,
Hảo bằng tâm thượng các tương tri,
Dă ưng giao thác thử duyên đề,
Phương tâm thệ bất phụ gia ḱ.

(Hựu Giang Nam điệu)

Dịch vần:
Kể ư ḿnh và tŕnh bạn là Mai Sơn Phủ

Hoa xiêu xiêu
Cây xiêu xiêu
Giấc mộng t́nh quê(1) thảy tịch liêu
Đêm xuân cảm khái nhiều.

Hươu ao ao
Nhạn ngao ngao
Vui sướng hẹn nhau một sớm nào
Tả hết được t́nh sao!

Sông bát ngát
Nước ào ạt
ư thiếp ḷng chàng cũng vu khoát
Lệ rơi thêm mặn chát.

Thơ da diết
Ḷng thê thiết
Đậm nhạt tấc ḷng ai thấu hết
Liệu bút chàng tả xiết?

Mây lang thang
Trăng mênh mang
Trăng gió xui ai luống đoạn tràng
Đâu là gác Đằng Vương

Mây tơ vương
Nước như sương
Mây nước trôi đâu chỉ một đường
Một đường xa khuất rộn ḷng thương

Ngày chậm ŕ
Đêm chậm ŕ
Sáng tối chạnh buồn lữ khách si
Nhớ thương đừng lỡ hẹn, sai ḱ.

Mưa trôi đi
Gió trôi đi
Mưa gió giục hoài cất bút thi (thơ)
Viết thi gửi tới khách " t́nh si"

Chàng có tâm
Thiếp có tâm
Mồng hồn lưu luyến bóng hoa râm
Thơ cùng ngâm
Rượu cùng trăng

Tự lúc buồn chia biệt
Ai người ấm nửa chăng?
Chớ đàn li khúc oán tri âm,
Đành xem như hết tiếng dao cầm(2)
Hẹn nhau nơi non nước muộn mằn!
Chớ buồn mà than thở cổ câm(kim).

Chàng hẹn ǵ
Ta hẹn ǵ
Hai ta đều muộn, nói mà chi
Trà mà chi
Bút mà chi
Cũng là thiến lí cả(3)
Ai là kẻ t́nh nhi
Hiểu nhau trong dạ khó khăn ǵ
Hăy nên trao gửi mối duyên đi
Ḷng son ai nỡ phụ giai ḱ

(Theo điệu Giang Nam)
Đ.T.T dịch

(1) Ḷng quê là ḷng nhớ quê ḿnh. Vậy h́nh như Sơn Phủ đă đi về quê Xuân Hương. Hoặc là người cùng làng, hay cùng huyện chăng? (Hoàng Xuân Hăn).
(2) Dao cầm: Đàn quư.
(3) Thiên lí: Dịch từ chữ " bút thiệt" - bút viết và lời nói. Dương Tử nói: " Cuốn sách do bút mà thành. Lời nói do lưỡi mà có. Ta xem " Ngũ thường" là bút và lưỡi của đế vương" . Ngũ thường ở đây là các quan hệ: quân thần, phục tử, phu-phụ, huynh đệ, bằng-hữu. V́ thế dịch là thiên lí.

Thệ viết hữu cảm (1)

Mười mấy năm trời một chữ t́nh
Duyên tơ này đă sẵn đâu đành
Mái mây cắt nửa nguyền phu phát
Giọt máu đầy hai chén tử sinh
Một kiếp đă tể cùng dạ thắm
Trăm năm đừng phụ với đầu xanh
Mai sau ḷng chẳng như lời nữa
Dao búa nguyền xin luỵ đến ḿnh.


Xuân đ́nh lan điệu
Phiên âm:
Nguyệt tà nhân tỉnh thú lâu trung
Ngoạ thính đồng long,
Khởi thính đồng long
Dạ bán ai giang hưởng bán không.
Thanh dă tương đồng
Khí dă tương đồng
Tương tư vô tận ngũ canh cùng.
Tâm tại Vu Phong
Hồn tại Vu Phong
Ân ái thử tao phùng
Nhàn ỷ đông phong
Quyện ỷ đông phong
Nhất viên hồng hạnh bích thanh song
Phồn hoa tích dĩ không.
Kim triêu hữu kiến sổ chi hồng
Oanh nhi nhạc đới xuân phong khứ
Chỉ khủng đào yêu vô lực tiếu đông phong
Phong thanh nguyệt bạch, bả ḱ hương nhập khách ngâm trung.

Dịch vần:
Bài ca theo điệu xuân đ́nh lan

Trăng tà người lặng từa lầu không(1)
Năm lắng chuông đồng,
Dậy lắng chuông đồng,
Đêm lắng tiếng buồn vang mé sông
Thanh đă tương đồng,
Khí đă tương đồng
Thanh khí năm canh rộn ră ḷng
Tâm ở Vu Phong
Ân ái cuộc tao phùng.
Nhàn tựa gió đông
Mỏi tựa gió đông
Một vườn hồng hạnh biếc xanh song
Phồn hoa tưởng đă không
Sớm nay bông nở mấy nhành hồng
Chim oanh chớ quyến xuân đi nhé
Ta sợ " Đào hoa vô lực tiếu đông phong"
Trăng thanh gió mát đem hương vào với các thi nhân.

(Đ.Đ.T dịch)
Nguyên văn: Thú lầu trung - trong cḥi canh. Thú lâu là cái cḥi canh ở chốn đồn binh. Thư Đường Huyền Tông có câu: " Nguyệt lạc thú lâu không" - Trăng lặn cḥi canh vắng.

Hồ Xuân Hương
Vịnh Cái Giếng

Ngơ ngay thăm thẳm tới nhà ông,
Giếng tốt thanh thơi,(1)(2) giếng lạ lùng
Cầu trăng phau phau đôi ván ghép,
Nước trong leo lẻo một ḍng thông.
Cỏ gà lún phún leo quanh mép,
Cá diếc le te lách giữa ḍng.
Giếng ấy thanh tân ai cũng biết(3)
Đố ai dám thả nạ ḍng sông.(4)

(1) Giếng tốt: Giếng sâu.
(2) Thanh thơi: Trong và sâu.
(3)-(4). Thả nạ ḍng ḍng: Tục ngữ có câu: "Ḍng ḍng theo nạ", nạ nghĩa là mẹ. Cái giếng trong và sâu kia, ai dám thả vào đấy một đàn "ḍng ḍng theo nạ"? Ví như người con gái thanh tân tươi tốt, ai cũng biết cả đấy, song ai dám cầu xin cô làm vợ để cô sẽ trở thành người mẹ quấn quít với những đứa con, v́ cô cao giá quá!

Hồ Xuân Hương
Vịnh Cái Quạt I

Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa,(1)
Duyên em dính dán tự bao giờ,(2)
Chành ra ba góc da c̣n thiếu,
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa.
Mát mặt anh hùng khi tắt gió,
Che đầu quân tử lúc sa mưa.
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng,
Ph́ phạch trong ḷng đă sướng chưa?

(1). Lỗ xâu: Các nan quạt đều có một cái lỗ để xâu bằng cái suốt.
(2) Dính dán: Cái nhài quạt chốt các nan quạt lại cho khỏi xổ, để có thể mở ra, khép vàọ Dính dán ở đây có nghĩa là kết dính hoặc kết tạo, chứ không phải "dính dáng" với nghĩa liên can.

Hồ Xuân Hương
Vịnh Cái Quạt II

Mười bảy hay là mười tám đây(1)
Cho ta yêu dấu chẳng dời tay.
Mỏng dày từng ấy, chành ba góc
Rộng hẹp dường nào, cẵm một cay.(2)
Càng nóng bao nhiêu thời càng mát,
Yêu đêm chưa phi lại yêu ngày.
Hồng hồng má phấn duyên v́ cậy.(3)
Chúa dấu vua yêu một cái này.

(1) Mười bảy, mười tám: Số nan quạt giấy, cũng nói tuổi của thiếu nữ.
(2) Cay: Cái suốt của quạt giấy, hải đầu có mảnh kim loại (nhài quạt) h́nh tṛn để chốt các nan lại ở hai nan cái.
(3) Cậy: Giống cây hồng, quả bé và chát, nhựa dùng để phất quạt. "Má hồng không thuốc mà say" (Cung oán ngâm khúc).

Hồ Xuân Hương
Vô Âm Nữ
(1)
Mười hai bà mụ ghét chi nhau,
Đem cái xuân t́nh(2) vứt bỏ đâu.
Rúc rích thây cha con chuột nhắt,(3)
Vo ve mặc mẹ cái ong bầu(4)
Đố ai biết đó vông hay trốc(5)
C̣n kẻ nào hay cuống với đầu(6)
Thôi thế th́ thôi, thôi cũng được,
Ngh́n năm càng khỏi tiếng nương dâu(7)

(1) Nhiều sách in sau này lầm bài này với bài Quan thị. Quan thị là viên hoạn quan khi xưa. Bài Quan thị được gán cho Hồ Xuân Hương.
(2) Cái xuân t́nh: Bộ phận không thể thiếu của người phụ nữ.
(3) ư ca dao:
"Con gái mười bảy mười ba
Đêm nằm với mẹ chuột tha mất..."
(4) ư ca dao:
"Bà già đánh trống long bong
Vừa đi vừa nhảy con ong đốt..."
(5) Tục ngữ: "Ngồi: lá vông; chổng mông: lá trốc"...
(6) Tục ngữ: "Đầu trỏ xuống, cuống trở lên"
(7) Tiếng nương dâu: nương dâu là băi trồng dâụ "Tiếng nương dâu" là tiếng (xấu) ở băi trồng dâu - Do thành ngữ chữ Hán là "Tang gian bộc thượng". Sách Hậu Hán thư, Địa lí chí nói rằng đất Vệ xưa có chỗ kín trong băi trồng dâu (tang gian) ở trên sông Bộc (Bộc thượng), là nơi trai gái thường tụ hội làm những chuyện dâm ô. Nguyễn Du đă dịch thành ngữ này: "Ra tuồng trên Bộc trong dâu - Th́ con người ấy cầu làm chi" (Kiều).

Hồ Xuân Hương
Xuân Hương Xướng

B́nh thủy tương phùng nguyệt dạ tôn
cương trường phiến phiến thuộc nan ngôn
Khiêu cầm hữu ư minh hoàng xướng
Nhiễu thụ vô đoan ngữ thước huyên
Thùy tục già thanh quy han khuyết
Tự tu liên bộ xuất hồ môn
Bán diên biệt hậu t́nh đa thiểu
Mạch mạch không ly Sảnh Nữ hồn

TVT sưu tầm