thả thuyền trên sóng nhạc      

 

 

 


T

hoắt một cái, hơn ba mươi năm qua vèo như giấc mộng! Đại đa số người Việt rời quê hương ra đi sau tháng Tư năm 1975 nay đă lạc nghiệp an cư. Những năm đầu trong đời xa xứ, v́ tâm tư c̣n xáo trộn sau cuộc đổi đời và cũng v́ hoàn cảnh sống của người di tản chưa ổn định nên sinh hoạt văn nghệ diễn ra rất thưa thớt. Ngoại trừ những chương tŕnh văn nghệ bỏ túi trong các buổi họp mặt hội đoàn hay những đêm văn nghệ đấu tranh, lâu lắm mới có một đại nhạc hội được tổ chức đâu đó. Nay th́ mọi sự đă khác. Nhiều trung tâm âm nhạc được h́nh thành, không ngừng phát triển. Đại nhạc hội được tổ chức thường xuyên hơn và tại nhiều nơi hơn, không do nhóm này cũng do nhóm khác. Giá vé dù có cao đến đâu chăng nữa cũng chẳng hề chi. Đời sống dân ta nay đă ổn định, có đồng ra đồng vào nên khả năng tiêu thụ cũng cao hơn ngày trước. Thêm vào đó là các hệ thống truyền thanh, truyền h́nh, mạng toàn cầu. Sinh hoạt văn nghệ tại hải ngoại mỗi ngày một thêm nhộn nhịp rôm rả với nhiều ca sĩ mới,  nhạc sĩ mới, nhạc khí mới, sáng tác mới, chương tŕnh mới. Ḍng nhạc Việt Nam tại hải ngoại từ nay như con sông rộng vượt thác băng ghềnh xuôi hoài ra biển cả mênh mông.

Những khúc hát chan chứa nỗi buồn lưu vong của cuối thập niên bảy mươi như  Sài G̣n Vĩnh Biệt, Sài G̣n niềm nhớ không tên, Đêm chôn dầu vượt  biển, Người di tản buồn, Ở bên nhà em không c̣n đứng đợi chờ anh... đến nay vẫn c̣n vương lại chút dư âm. Những ca nhạc sĩ mới thành danh với lập trường chống cộng và tinh thần đấu tranh cho tự do trong giai đoạn này như Việt Dzũng, Nguyệt Ánh...  đến nay vẫn c̣n lưu lại trong ḷng người ít nhiều cảm mến. Điều đáng nói là sau bao âm mưu khuynh loát của địch, họ vẫn vững ḷng chiến đấu đ̣i dân chủ nhân quyền cho tám chục triệu đồng bào ruột thịt bên kia bờ đại dương. Đây là những nghệ sĩ đă tự chọn cho ḿnh một chiến tuyến và thời gian sẽ trả lời nếu họ vẫn tiếp tục đứng trong hàng ngũ chống cộng hay sẽ thay đổi lập trường như một số người đă làm trong mấy năm qua.

Phát xuất từ những người ra đi v́ lư tưởng tự do, ḍng nhạc Việt Nam hải ngoại dù muốn dù không cũng chuyên chở tâm t́nh thương quê, nhớ nước, căm thù cộng sản, vấn vương kỷ niệm, tiếc nhớ quá khứ vàng son của những ngày chưa mất nước... Tuy nhiên, cũng có một số ca nhạc sĩ chủ trương phi chính trị, chỉ muốn sống “đời ca hát cho người mua vui”. Các gánh hát cũng vậy, có gánh thiên hữu, có gánh cố giữ  quân b́nh như người xiếc đi dây, có gánh thiên hẳn về cánh tả. Những gánh hát này trong mấy chục năm qua đă đóng một vai tṛ rất quan trọng trong đời sống người Việt tị nạn. Đời lưu vong mà thiếu họ th́ buồn biết mấy, có khác ǵ đàn đứt cung tơ!  Tạm gọi nôm na là gánh hát cho vui chứ thực ra đấy chính là những cơ sở văn nghệ chuyên tổ chức đại nhạc hội và sản xuất băng nhạc mà hai tên tuổi được khán thính giả biết đến nhiều nhất là Trung tâm Asia và Thúy Nga Paris By Night.

Hai trung tâm này trong hơn hai mươi năm qua đă là kỳ phùng địch thủ trên chiến trường băng nhạc, dĩa nhạc(CD) và băng h́nh (VHS & DVD). Hiện nay, nhóm Asia đang cố gằng chinh phục  cảm t́nh khán thính giả nhằm mở rộng thị trường. Ngay từ giai đoạn phôi thai, những người chủ trương của trung tâm Asia đă xác định lập trường chống cộng qua cách lựa nhạc, chọn ca sĩ, dàn dựng chương tŕnh, bố cục, viết lời thuyết minh... Trong thời gian gần đây, các chương tŕnh văn nghệ cũng như những băng h́nh  của Trung Tâm Asia bắt đầu được khách mộ điệu hưởng ứng nồng nhiệt hơn. DVD Asia 46 “Hành tŕnh 30 năm” và DVD Asia 50 “Anh không chết đâu anh” được xem như rất thành công. DVD “Anh không chết đâu anh” được tán thưởng nhiệt liệt có lẽ v́ cảm t́nh khán giả dành cho cố ca-nhạc-sĩ  Nhật Trường Trần Thiện Thanh. Tuy nhiên, cũng có lắm người không mấy hài ḷng khi nghe “Chiếc áo bà ba” dưới giọng ca đầy âm hưởng cổ nhạc của Ngọc Huyền. Người nữ ca sĩ này khi c̣n ở trong nước đă được chính quyền cộng sản trao tặng danh hiệu “nghệ sĩ ưu tú”,  có lẽ v́ quen ngân nga uốn éo khi hát cổ nhạc cho nên khi chuyển sang tân nhạc nàng cũng không tránh khỏi chuyện méo mó nghề nghiệp. Không riêng ǵ Ngọc Huyền, hầu như bất cứ ca sĩ nào xuất thân từ cổ nhạc đều mang theo ít nhiều hơi hướm vọng cổ cải lương vào tân nhạc. Ngân nga vừa phải th́ c̣n dễ nghe, chứ hát tân nhạc mà ngân hay uốn éo như vọng cổ th́ có phần hơi chỏi. Những lúc Ngọc Huyền cao hứng đi quá đà, tiếng ngân nghe như tiếng rên ư ử làm cho thính giả có cảm tưởng nàng đang lấy hơi lên giọng xuống xề, nghe thổn thức nghẹn ngào quá đáng. Người viết bài này không có ư chê bai hay miệt thị cổ nhạc. Tân nhạc và cổ nhạc là hai bộ môn chính của âm nhạc Việt Nam và bộ môn nào cũng quan trọng như nhau, tuy nhiên mỗi ngành đều có một bản sắc riêng. 

Hai bộ DVD của Asia với nội dung rất xúc tích đă có tác dụng như những đợt sóng ngầm cuốn tung lên rong rêu kỷ niệm tưởng đă chôn sâu trong hồn người từ bấy lâu nay, làm cho người nghe sống lại một phần đời trong quá khứ, cho dù đó là quá khứ vàng son hay chỉ là những tháng ngày buồn đau chinh chiến. Vài tháng sau khi phát hành DVD “Anh Không Chết Đâu Anh”, Asia tung ra thị trường cuốn “T́nh Khúc Sau Cuộc Chiến”. Cuốn này không khá lắm v́ Asia đă lựa toàn nhạc cũ, cách dàn dựng sân khấu chưa tuyệt mỹ, người điều khiển chương tŕnh không có ǵ để nói ngoài chuyện phỏng vấn các ca nhạc sĩ. “T́nh Khúc Sau Cuộc Chiến” chưa tiêu thụ hết, Asia lại tung ra bộ DVD thứ 52, “Huyền Thoại Lê Minh Bằng”. Nhóm đầu năo của cơ sở Asia chọn hai chữ “huyền thoại” cốt để gợi óc hiếu kỳ của người tiêu thụ nhưng kỳ thực bộ đĩa này cũng chất chứa một nội dung tương tự như bộ T́nh Khúc Sau Cuộc Chiến với đa số là những nhạc  phẩm mà người ta đă nghe đi nghe lại quá nhiều lần như Chuyện Hoa Sim, Anh Cứ Hẹn, Hà Tiên, T́nh Đời, Đêm Nguyện Cầu, Linh Hồn Tượng Đá, Cánh Buồm Chuyển Bến, Chuyến Tàu Hoàng Hôn, Mưa Trên Phố Huế, Biệt Kinh Kỳ... Nhạc cảnh “Đêm Nguyện Cầu” tuy được dàn dựng khá công phu nhưng không tránh được  những nét giả tạo có lúc làm cho sân khấu có vẻ như ảo huyền ma quái, không hợp với nội dung bài nhạc. Ai cũng biết ba vị Lê Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng là những nhạc sĩ gạo cội với tiếng tăm lừng lẫy và những sáng tác của họ là tài sản vô giá trong kho tàng âm nhạc Việt Nam nhưng tại sao lại phải là  “huyền thoại” ?

Gác những điểm tiêu cực sang một bên, trung tâm Asia đáng được tuyên dương trước những cố gắng cải thiện và sáng tạo không ngừng của họ. Vài điểm đáng chú ư là sự góp mặt của ca sĩ thuộc hai thế hệ trong cùng một bài hát, sự luân phiên thay đổi người điều khiển chương tŕnh (MC). Mặt khác, sự hiện diện của một số tinh hoa dân tộc như nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh trong cuốn “Mùa hè rực rỡ” đă mang lại cho Trung tâm Asia nhiều nét mới lạ, tuy nhiên một trong những yếu tố  sinh tồn của Trung tâm Asia vẫn chính là họ biết nương theo ngọn cờ chống cộng của đa số người tị nạn. Nói cách khác, Trung tâm Asia biết mang lời ca tiếng hát làm đẹp thêm cho chính nghĩa chiến đấu cho nhân quyền tự do cũng như  để vinh danh quân dân cán chính miền Nam, để ghi nhớ gương hy sinh cao cả của những người đă nằm xuống cho cuộc chiến đấu giành tự do. Chính v́ thế mà cộng sản Việt Nam không ngừng bài bác Asia, nhất là DVD Hành tŕnh 30 năm đă bị họ công kích kịch liệt. Ca sĩ Ngọc Huyền cũng v́ tŕnh diễn quá xuất thần trong chương tŕnh này nên bị cộng sản nguyền rủa là “nước mắt xảo trá”  và thu hồi tước vị “nghệ sĩ ưu tú” mà họ đă trao tặng cho cô khi c̣n ở Việt Nam.  Cho đến nay, Asia vẫn c̣n đứng chung chiến tuyến với những người chống cộng, nhưng đố ai biết được ngày sau sẽ ra sao. Dưới ánh mặt trời chuyện ǵ cũng có thể xảy ra!

Trung tâm Thúy Nga Paris By Night (PBN) tuy là đối thủ của Asia trên thương trường nhưng trên mặt t́nh cảm, hai cơ sở văn nghệ này có thể được xem như là thông gia v́ bà Đặng Tuyết Mai và luật sư Trịnh Hội, hai nhân vật gắn bó với Asia, lại là thân mẫu và phu quân của Nguyễn Cao Kỳ Duyên, trụ cột của Thúy Nga. Nói về lập trường chính trị th́ gánh hát này vẫn nằm trong cánh hữu nhưng có vẻ mềm mỏng và ḥa hoăn hơn. Các chương tŕnh đại nhạc hội hay những sản phẩm của họ nếu có phảng phất màu sắc chính trị th́ cũng chỉ nhẹ nhàng phơn phớt. Hát nhạc lính, các ca sĩ của Thúy Nga không mặc đồ nhà binh rằn ri như các ca sĩ của Asia. Lập trường và thái độ của PBN ít nhiều đă tạo ra những dị nghị trong giới văn nghệ và có người đă nghi ngờ PBN có khuynh hướng thiên tả. Sự hoài nghi này càng lớn hơn sau vụ PBN tung ra cuốn video PBN40 với chủ đề “Mẹ”. Trớ trêu thay, v́ đây là cuốn băng h́nh thứ 40 cho nên những kẻ có ác ư đă gọi nó là...quả B40 mà Thúy Nga, theo mật lệnh của Hà nội, bắn vào cộng đồng tị nạn tại hải ngoại!  Để tránh lời qua tiếng lại, Thúy Nga đă kịp thời thích ứng với hoàn cảnh và lập tức cho thu hồi một số băng đă tung ra thị trường. Cũng chính v́ cuốn “B40” này mà nhiều trận bút chiến trong làng báo cũng như giữa Nguyễn Ngọc Ngạn và Nguyễn Hữu Nghĩa của nhóm Làng Văn Canada đă xảy ra. Bên nào cũng lôi kéo được một số đồng minh và những chiếc nón cối cũ mèm của Việt Cộng được cả hai bên mang ra để t́m cách đội cho nhau. X́-căn-đan video “Mẹ” chưa nguôi ngoai th́ lại đến chuyện ông tướng râu kẽm Nguyễn Cao Kỳ quay lưng phản bội anh em trở về chung sống với kẻ cựu thù. Ái nữ của ông, Nguyễn Cao Kỳ Duyên, cộng sự viên tâm đắc của Nguyễn Ngọc Ngạn, dù muốn dù không cũng bị ít nhiều miệng tiếng thị phi. Thương trường không khác ǵ chiến trường, cạnh tranh bất chính, sát phạt nhau để giành ăn giành mối là chuyện xảy ra như cơm bữa. Trâu cột ghét trâu ăn, những người từ trước đến nay vốn đă thua cơ Thúy Nga thêm một lần nữa không bỏ lỡ cơ hội bằng vàng để t́m cách triệt hạ đối phương cho bằng được.

Những kẻ thừa nước đục thả câu này không khỏi thất vọng khi thấy những thủ đoạn của họ không đánh gục được một cơ sở đă h́nh thành và lớn mạnh từ những năm đầu của thập niên tám mươi. Giông băo qua đi, con thuyền Thúy Nga Paris By Night cứ thế mà tà tà lướt sóng. Hết chương tŕnh này đến chương tŕnh khác, hết đĩa nhạc, băng h́nh này đến đĩa nhạc, băng h́nh khác. Khởi đầu bằng số không, nay trung tâm Thúy Nga đă có đến cuốn DVD thứ 83 dưới chủ đề “Những Khúc Hát Ân T́nh” và đang chuẩn bị tung ra thị trường cuốn DVD 84 với chủ đề “Âm Nhạc Và Thời Trang”. Trong hơn hai mươi năm giúp vui cho đời, Thúy Nga đă tổ chức nhiều buổi tŕnh diễn tại các đại hí viện danh tiếng sang trọng như Performing Arts Center ở Houston, Shrine Auditorium ở Los Angeles (nơi tổ chức nhũng buổi trao giải thưởng Oscar), Canadian Broadcasting Center và hí viện Bassett ở Toronto, Caesar Palace ở Las Vegas...Với một đội ngũ diễn viên hùng hậu phối hợp với kỹ thuật âm thanh ánh sáng tân kỳ và cách dàn dựng sân khấu tuyệt mỹ, trung tâm Thúy Nga đă gặt hái khá nhiều thành quả lớn. Bên cạnh đó, hai “em-xi” Nguyễn Ngọc Ngạn và Nguyễn Cao Kỳ Duyên điều khiển chương tŕnh một cách rất ăn khớp, sống động, nhịp nhàng. Nguyễn Ngọc Ngạn, nguyên là nhà giáo kiêm nhà văn cho nên đă dùng kiến thức uyên bác của ḿnh để kể những mẫu chuyện đông tây kim cổ khá thú vị. Có lẽ nhờ  những câu  chuyện hay những mẫu đối thoại đôi khi khá dài này mà các chuyên viên kỹ thuật có thêm th́ giờ chuẩn bị sân khấu. Nguyễn Cao Kỳ Duyên tuy không có kho tàng kiến thức dồi dào như Nguyễn Ngọc Ngạn nhưng thay vào đó là nét duyên dáng và nụ cười tươi như hoa. Đáng tiếc chăng là một số khán thính giả trung và cao niên đôi khi không khỏi cau mày khi nghe nàng chêm nhiều tiếng Mỹ vào những câu tiếng Việt. Người ta cho rằng đă đến lúc Thúy Nga nên tăng cường hoặc thay đổi người điều khiển chương tŕnh, nhưng thay được một MC sáng giá như Nguyễn Ngọc Ngạn thật không phải chuyện dễ.

Trong năm 2005, cuốn video PBN 77 “30 Năm Viễn Xứ” là một trong những tuyệt phẩm của trung tâm Thúy Nga.  Những chương tŕnh đại nhạc hội và băng h́nh mới hơn như  “Đường Xưa”, “Dreams”, “Tiếu Vương Hội” “Âm Nhạc Không Biên Giới”, ... tuy không lưu lại trong ḷng người  nhiều dư âm trầm lắng như cuốn “30 Năm Viễn Xứ” nhưng cũng đă mang lại cho khán thính giả nhiều phút giây thoải mái. Thời gian gần đây, các gánh hát bỗng dậy lên phong trào giới thiệu nhạc sĩ. Đây là một việc làm rất đáng biểu dương v́ số nhạc sĩ kỳ cựu của nền nhạc Việt đă và đang bước vào giai đoạn cuối đời, nếu các ông bà bầu gánh không nhanh chóng vinh danh họ trước mặt khán giả bốn phương th́ e không c̣n kịp nữa. Trong cuốn Đường Xưa của Thúy Nga người ta thấy có sự xuất hiện của ba nhạc sĩ Châu Kỳ, Tùng Giang và Quốc Dũng. Kế đến  là đại nhạc hội Huyền thoại Lê Minh Bằng của Asia nhằm giới thiệu những sáng tác của ba nhạc sĩ Lê Dinh, Minh Kỳ, Anh Bằng. Asia vừa tung chưởng “Lê Minh Bằng” th́ Thúy Nga cũng đáp lễ ngay với tuyệt chiêu “Tiên Sơn Ánh”. Đại nhạc hội “Những khúc hát ân t́nh” của trung tâm Thúy Nga đă thành công rực rỡ với sự xuất hiện của ba nhạc sĩ kỳ cựu Xuân Tiên, Thanh Sơn và Nguyễn Ánh 9.  Ba vị nhạc sĩ đến từ bên kia ṿng trái đất không chỉ là đề tài mà c̣n là linh hồn của buổi diễn. Nhạc sĩ Xuân Tiên tuy đă 86 tuổi đời nhưng vẫn linh hoạt và cực kỳ minh mẫn. Ông chinh phục cảm t́nh của khán giả một cách rất dễ dàng qua phong cách ung dung và tiếng sáo đê mê. Hơn thế nữa, nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn c̣n cho biết nhạc sĩ Xuân Tiên có khả năng sử dụng rất nhuần nhuyễn 25 loại nhạc khí khác nhau, trong đó có một số do chính ông sáng chế! Nhạc sĩ Thanh Sơn, sống sót sau cuộc mỗ tim, đă không ngăn được cơn xúc động khi nhớ đến lúc mạng sống của ông như chỉ mành treo chuông mà trong nhà thiếu hụt đến mức không đủ tiền trả chi phí giải phẩu cho bệnh viện. Số tiền có thể cứu được một nhân mạng, dựa trên tiêu chuẩn của một người có lợi tức trung b́nh tại Mỹ,  không đáng là bao nhưng oái oăm thay, suưt chút nữa nếu không có nó, dân ta đă mất đi một kỳ tài âm nhạc. Cũng may một số ca nghệ sĩ giàu ḷng nhân trong và ngoài nước đă đóng góp tiền bạc để giúp ông qua phút hiểm nghèo. Kế đến là nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 với câu chuyện cắt giấy bồi làm phím đàn dương cầm để học nhạc đă làm cho nhiều  khán giả phải phục thầm, và càng phục hơn khi biết nhạc phẩm “Không” của ông đă được dịch ra ngoại ngữ .

Cuộc sống thanh bần của nhạc sĩ Thanh Sơn nhắc cho ta nhớ đến những nhạc sĩ tài ba đă vắt tim moi óc nhả cho đời những đường tơ óng ánh diệu kỳ để rồi đến cuối cuộc đời lắm người nghèo vẫn hoàn nghèo và thậm chí có người đă ĺa đời trong cô đơn giá lạnh.  Có lẽ v́ ư thức trách nhiệm đối với những người có công lớn với nền âm nhạc Việt Nam mà các cơ sở văn nghệ như Thúy Nga đă không ngại tốn kém tạo điều kiện cho họ được xuất hiện trước khán giả bốn phương để khách mộ điệu được diện kiến cha đẻ của những nốt nhạc tuyệt vời mà bấy lâu nay họ chỉ nghe nhưng không biết tác giả  là ai.  Không rơ các ông bà bầu gánh có thu lại được những ǵ họ đă bỏ ra hay không – chi phí di chuyển để đưa 3 người từ bên kia ṿng trái đất sang đến Hoa Kỳ không phải là nhỏ, ấy là chưa nói đến tiền ăn ở và thù lao –  nhưng sự xuất hiện của các nhạc sĩ ít nhiều đă làm cho buổi tŕnh diễn thêm phần kỳ thú và đây cũng có thể  được xem như là một thí dụ điển h́nh của phương châm “lao tư lưỡng lợi”.

Sau cuốn Khúc Hát Ân T́nh không bao lâu, Thúy Nga tung ra thị trường cuốn PBN84 dưới chủ đề “Âm Nhạc và Thời Trang”.  Khác hẳn những cuốn đă ra trong năm, DVD “Âm Nhạc và Thời Trang” (phụ đề Anh ngữ là “Passport to Music and Fashion”) cho thấy Thúy Nga có nhiều cố gắng vượt bực để mang đến cho khách thưởng ngoạn những bất ngờ kỳ thú mà mở đầu là sự xuất hiện của hai ca sĩ Bảo Hân và Như Loan đi giữa hai hàng ghế khán giả, vừa đi vừa vui tươi nhún nhảy ca hát trên đường tiến lên sân khấu. Từ  âm thanh cho đến ánh sáng, trang phục, thành phần ca sĩ, cách dàn dựng sân khấu, đường nét diễn xuất độc đáo của các vũ công... điểm nào cũng có vẻ trội hơn những cuốn đă tŕnh làng trong năm. Cũng nhờ cuốn DVD này mà khán thính giả được biết thêm những nét độc đáo đặc sắc của thành phố Atlanta, một địa danh đă đi vào lịch sử với những tên tuổi lớn như Jimmy Carter, Martin Luther King. Về phần nội dung, nhạc được chọn lựa khá công phu với một bố cục rất chặt chẽ để không làm khán giả nhàm chán. Ngoại trừ một vài bài đơn ca, đại đa số là song ca cho nên nếu gọi cuốn DVD này là “Thúy Nga Song Ca Tuyệt Phẩm” chắc cũng không có ǵ quá đáng! Một nét đặc sắc mới lạ khác cũng cần nhắc đến là khán giả được xem cảnh người điều khiển chương tŕnh đi ṿng ṿng sau lưng hậu trường để  phỏng vấn các ca sĩ ngay khi mà chương tŕnh vẫn c̣n đang tiếp diễn. 

Sau Asia và Thúy Nga về số lượng là “gánh” Vân Sơn. Nói về lập trường chánh trị th́ gánh này có vẻ hơi... ba phải. Những người đầu đàn của nhóm như Vân Sơn,Việt Thảo,... đă từng đi đi lại lại Việt Nam cho nên họ không  muốn bị lôi thôi với nhà chức trách. Nói về nghệ thuật, sản phẩm của Vân Sơn thích hợp với mọi giai tầng trong xă hội. Người ta thích Việt Thảo với những nét vui tươi, dí dỏm, trẻ trung, hài hước của anh. Anh không kiểu cách cầu kỳ, không làm dáng, không đóng bộ mặt đạo mạo cứng nhắc. Anh điều khiển chương tŕnh một cách rất tự nhiên, ăn nói lưu loát, ứng đối nhanh nhẹn, ngôn ngữ b́nh dị, vui nhộn, nhiều lúc làm khán giả bật lên những tràng cười ḍn tan như thể họ đang theo dơi một danh hài. Dân ái mộ tôn vinh anh là “đệ nhất em-xi” thiết tưởng cũng không có ǵ quá đáng. Một ưu điểm khác của trung tâm Vân Sơn là thành phần nghệ sĩ  khá hùng hậu, bao gồm ca sĩ của cả hai trung tâm kia. Trong năm qua Vân Sơn đă phát hành  DVD Vân Sơn 33 “In Shanghai” và Vân Sơn 34 “Quê Hương Vùng Trời Kỷ Niệm”. Cả hai DVD đều được  nhiều khán thính giả hoan nghênh, riêng cuốn sau với những nhạc phẩm chọn lọc dưới chủ đề quê hương kỷ niệm đă để lại trong ḷng người ly hương nhiều dư âm xao xuyến.

Ngoài ba trung tâm Asia, Thúy Nga và Vân Sơn, những hăng dĩa khác như Ca Dao, T́nh, Dạ Lan, Làng Văn, Hải Âu, Mây, Diễm Xưa...  cũng đă góp phần không nhỏ trong sự lớn mạnh vượt bực của làng âm nhạc hải ngoại. Số lượng dĩa nhạc tung ra trên thị trường âm nhạc hải ngoại càng lúc càng nhiều. Hệ thống Internet và các đài phát thanh, phát h́nh Việt ngữ đă giúp cho nhạc Việt  phổ biến rộng răi hơn. Không như những năm cuối thập niên bảy mươi, nay người Việt tị nạn có thể nghe nhạc Việt bất cứ nơi đâu. Lớp người tị nạn thích nghe nhạc Việt mà nhất là “nhạc vàng” phần lớn nằm trong lứa tuổi  ba, bốn mươi hay cao hơn, ngoại trừ  những ai mới rời Việt Nam như các sinh viên du học, đoàn tụ gia đ́nh... Ca sĩ Việt Nam tại hải ngoại rất đông, nếu phải kể ra đặc tính từng người có lẽ phải mất vài ngàn trang sách. Những ai muốn biết thêm về các ca sĩ Việt có thể t́m đọc bộ “Theo chân những tiếng hát” của nhà văn Hồ Trường An hay những “Tuyển tập nghệ sĩ” của nhạc sĩ Trường Kỳ. Hai vị này viết rất công phu và đầy đủ chi tiết . Riêng với nhà văn Hồ Trường An th́ ông lại thích dùng tên các loài chim quí để so sánh với tiếng hát của các ca sĩ, nhất là giọng nữ. Ông khen nhiều hơn chê, có lẽ v́ sợ lời thật mất ḷng chăng? C̣n nhạc sĩ Trường Kỳ th́ có khi ông lại thích kể thêm một vài mẫu chuyện rất thú vị theo kiểu “nghe sao ghi vậy, thấy ǵ viết nấy”.

 Tại hải ngoại, những giọng hát oanh vàng của các nữ ca sĩ nổi danh từ trước năm 75 nay đă hay đang bước vào tuổi trung niên nhưng vẫn c̣n được nhiều khách mộ điệu yêu mến có thể kể ra như Lệ Thu, Thanh Tuyền, Thanh Thúy, Thanh Lan, Khánh Ly, Giao Linh, Kim Anh, Phương Dung, Mai Lệ Huyền, Hoàng Oanh, Sơn Ca, Lê Uyên... Những con chim quí của bầu trời âm nhạc này đến nay vẫn c̣n tiếng hót lảnh lót và rung động như ngày nào. Thanh Tuyền vẫn như ḍng suối trong tuôn chảy măi trên núi rừng Đà Lạt, róc rách những âm điệu đậm nồng hương kỷ niệm. Thanh Thúy vẫn với tiếng hát nức nở nghẹn ngào làm tim người nghe phải se thắt; Lệ Thu vẫn trầm ấm, mặn nồng, thong dong với làn hơi cực kỳ phong phú; Khánh Ly vẫn với tiếng hát đă từng một thời đưa nhạc Trịnh Công Sơn lên đến tột đỉnh; Kim Anh vẫn với giọng hơi khàn đục như nhựa thuốc nhưng ngọt và dẻo như kẹo mạch nha với những bản nhạc song ngữ Việt-Hoa; Phương Dung, người mà hầu như ai cũng biết đến qua cái tên “con nhạn trắng G̣ Công” vẫn c̣n thừa sức thu hút thính giả với giọng hát ngọt ngào êm ái và phong cách khoan thai; nói chung, mỗi người một vẻ.

Về phía nam ca sĩ trong lứa tuổi năm, sáu “bó”  th́ có Vũ Khanh, Tuấn Ngọc, Anh Khoa, Chế Linh, Đức Huy, Trung Chỉnh, Quốc Anh... Vũ Khanh với giọng hát trầm ấm và phong cách ung dung, tự nhiên, không như Tuấn Ngọc với lối diễn xuất đôi khi có vẻ thậm xưng dù rằng anh đă thành thực thố lộ rằng “hát mà không nhắm mắt th́ không ... sướng!”. Anh Khoa, chàng ca sĩ có tiếng là “mít ướt” tuy không xuất hiện dưới ánh đèn màu nhiều như các ca sĩ khác nhưng vẫn là một giọng hát dễ gây thiện cảm.  Với Trung Chỉnh, tuy nghề hát chỉ là nghiệp dư nhưng anh hát rất mùi mẫn và điệu nghệ. Anh hát cặp với Hoàng Oanh rất hợp. Chế Linh, tức nhạc sĩ Tú Nhi nổi tiếng với nhạc phẩm Đêm Buồn Tỉnh Lẻ, ông hoàng của thế giới nhạc t́nh ướt át mà có người gọi là “nhạc sến”, vẫn c̣n giữ được làn hơi đầy đặn và phong độ như xưa tuy có lúc anh hơi làm dáng khi nói chuyện trước khán giả. Có lần khi hát bài Trên Bốn Vùng Chiến Thuật của Trúc Phương, chẳng biết tại sao có một câu anh đă không hát đúng theo bản gốc “Gio Linh đón thây giặc về làm phân xanh cây lá”. Thay vào đó,  anh hát  Gio Linh khói bom đạn làm rừng cây thôi xanh ”. Không biết ai đă sửa lời hát này?  Ba chữ  “khói bom đạn” có vẻ như qui tội ác chiến tranh cho phe miền Nam v́ chỉ có Việt Nam Cộng Ḥa và Mỹ mới có bom thôi chứ miền Bắc lúc ấy nào đă có máy bay vào oanh tạc miền Nam!

Chính v́ vậy mà thông thường các nhạc sĩ không muốn bất cứ ai tự động sửa lời bài hát của họ. Có lần nhạc sĩ Vũ Thành An đă nhắc đến điểm này trong dịp xuất hiện trên một xuất tŕnh diễn văn nghệ của trung tâm Thúy Nga. Sửa lời nhạc nhiều lúc không chỉ làm sai lệch ư tác giả mà c̣n có những tác dụng không tốt như làm mất âm vận mà tác giả đă khổ công nặn óc t́m lời t́m chữ để làm cho lời ca thêm chất thơ. Không chỉ để thêm chất thơ, người sáng tác c̣n muốn ḍng nhạc trong bài trôi chảy êm ái và liền lạc hơn qua cách gieo vần ở mỗi cuối câu. Trần Thái Ḥa khi tŕnh bày  “Bài không tên số 8” của Vũ Thành An đă hát “Chiều thơm du hồn người bồng bềnh” thay v́ nếu theo đúng nguyên tác th́ phải hát là “Chiều thơm du hồn người bềnh bồng”. Thực ra th́ bồng bềnh hay bềnh bồng cũng vậy thôi, nhưng người soạn lời ca đă có dụng ư như thế để chữ “bồng” ở câu thứ nhất bắt vần với chữ “mong” ở câu thứ hai, “Chiều không im gọi người đợi mong”. Đây chỉ là một lỗi lầm rất nhỏ, nhưng giá mà Trần Thái Ḥa không vấp phải th́ hay biết mấy!  Ca sĩ Lệ Thu trong nhạc phẩm Lệ Đá của Trần Trịnh, lời Hà Huyền Chi, ở câu gần cuối bài chị hát “Nhớ môi anh và màu mắt biếc”.  Chẳng biết nhân vật “anh” trong câu hát này có phải là Loan Mắt Nhung không nhỉ? Khánh Hà biến người nam trong nhạc Vũ Thành An thành người nữ bằng cách sửa lời hát “Suốt con đường ai d́u lối, hăy yêu nhiều người anh tôi!” Ở một trường hợp khác,  ca sĩ Thái Hiền khi hát bài Tiếng Sáo Thiên Thai của Phạm Duy (trong album Đôi mắt người Sơn Tây) đă hát “Khi cao, cao mờ vút, Cùng làn mây lừng lỡ” thay v́ “Cùng làn mây lờ lững”. Đây thật là một lỗi lầm hết sức tội nghiệp v́ tự vựng Việt Nam làm ǵ có từ đôi “lừng lỡ”! Bất cứ ca sĩ nào hát bài này đều hát “lờ lững”, nhưng đặc biệt chỉ có cô con gái cưng của bố già Phạm Duy hát một bản nhạc do chính bố ḿnh sáng tác lại hát “lừng lỡ”. Có lẽ nào Thái Hiền đă vô t́nh nói lái mà không biết chăng?

Không kể lớp ca sĩ đàn anh đàn chị mà tuổi đời nay đă cao, lực lượng ca sĩ trẻ hơn tại hải ngoại cũng khá hùng hậu. Lớp đi trước th́ có Ư Lan, Ái Vân, Sơn Tuyền, Khánh Hà, Lưu Bích, Nguyễn Hưng, Tuấn Anh, Tuấn Vũ, Don Hồ... Nối gót theo sau là Mạnh Đ́nh, Mạnh Quỳnh, Trường Vũ, Gia Huy, Philip Huy, Ngọc Hạ, Phi Nhung, Thiên Kim, Tâm Đoan, Như Quỳnh, Tường  Nguyên, Thái Thảo, Diễm Liên, Thủy Tiên, Mỹ Huyền, Trúc Lam, Trúc Linh, Shayla, Trish Thùy Trang, Thanh Hà (trùng nghệ danh với nghệ sĩ thổi sáo Thanh Hà), Loan Châu, Thanh Trúc, Lâm Thúy Vân, Lâm Nhật Tiến, Henry Chúc, Lê Tâm, Sỹ Đan, Nguyên Khang, Trường Vũ, Quang Lê, Trần Thái Ḥa... Don Hồ sau một thời gian tung hoành trên sân khấu Thúy Nga nay đă về đầu quân dưới trướng Asia. Trường Vũ có giọng nấc nghẹn rất ăn tiền, anh hát nhạc vàng có ṃi qua mặt cả đàn anh Chế Linh.  Nguyên Khang từ giọng hát cho đến điệu bộ ít nhiều phảng phất h́nh bóng ca sĩ đàn anh Tuấn Ngọc. Trần Thái Ḥa hát hay, giọng ấm, nhưng hơi đơn điệu, thiếu hồn. Sỹ Đan không chỉ là ca sĩ mà c̣n là nhạc sĩ. Tuấn Anh với bộ râu mép rất nam nhi chi chí nhưng lúc nào cũng thích chưng diện và trang sức như phụ nữ. Anh được nhiều người biết đến nhất qua nhạc phẩm “Trái Tim Ngục Tù”, gần như không ai hát bài này điệu nghệ hơn anh. Tuấn Vũ đă có một thời được thi sĩ Nguyên Sa ca ngợi là con chim phượng hoàng của bầu trời âm nhạc Việt Nam hải ngoại, nay vẫn c̣n là một giọng ca trữ t́nh rất ăn khách. Như Quỳnh khi c̣n pḥng không gối chiếc đă từng là thần tượng của không biết bao nhiêu “người yêu cô đơn”. Nay tuy thêm thiên chức làm vợ và làm mẹ nhưng giọng ca của nàng vẫn giữ nguyên phong độ ngày nào.

 Gần đây hơn có những khuôn mặt mới như Thái Doanh Doanh, Yến Thanh, Yến Phương, Y Phụng, Y Phương, Châu Tuấn, Khải Tuấn, Minh Thông, Dương Triệu Vũ, Ánh Minh, Nini, Vina,... Dương Triệu Vũ hát  Viễn Khúc Việt Nam của Hàn Lệ Nhân không chê vào đâu được. Có thể nói chính Dương Triệu Vũ và Thúy Nga PBN 77 (30 Năm Viễn Xứ) đă chắp cánh cho nhạc phẩm Viễn Khúc Việt Nam v́ trước Dương Triệu Vũ, rất ít người biết đến bài hát này. Yến Thanh, tức Hoài Điệp Hạ Phương, là ái nữ của nhà văn quá cố Hoài Điệp Tử. Cô không chỉ ca hát mà c̣n làm thơ, làm báo và hiện cô đang chăm sóc báo Mai phát hành tại Nam Cali. Yến Phương là em của Yến Thanh, đă từng góp mặt trên sân khấu Asia. 

Nói về những đôi uyên ương âm nhạc th́ xưa nay ai cũng biết những cặp như Tommy Ngô- Lynda Trang Đài, Công Thành-Lynn, Khánh Hà- Tô Chấn Phong, Trần Quang Hải-Bạch Yến, Nga Mi-Trần Lăng Minh... Trong tương lai không chừng sẽ có một đôi song ca rất độc đáo, không phải uyên ương mà lại là mẫu tử. Đó chính là Mỹ Lan và Trần Thiện Anh Chí, con trai nhỏ nhất của cố ca nhạc sĩ Nhật Trường. Nh́n bé Anh Chí đội mũ đỏ hát “Người ở lại Charlie” có nhiều khán giả không cầm được nước mắt. Người ta khóc v́ thương cho bé sớm mồ côi mà cũng khóc v́ ngậm ngùi tiếc nhớ một kỳ tài âm nhạc đă vĩnh viễn ra đi để lại cho đời vô vàn cung đàn tiếng hát.

Trần Lăng Minh và phu nhân Nga Mi là một đôi nghệ nhân có nhiều nét rất độc đáo, khá quen thuộc trong giới du ca. Anh không chỉ sáng tác mà c̣n tự hát những tác phẩm của chính ḿnh với làn hơi rất phong phú và kỹ thuật diễn xuất chỉ có ở những ca sĩ gạo cội. Một trong những nét đặc biệt tạo sự chú ư nơi khán giả là anh đàn tay trái, giống như nhạc sĩ Vô Thường. Khi hát chung với Nga Mi, đôi trai tài gái sắc này đă mang lại cho khán thính giả nhiều ngạc nhiên kỳ thú. Lynda Trang Đài đă từng một thời làm mưa làm gió với lối diễn xuất nóng bỏng, cuồng loạn mà có người đă gọi  nàng là Madonna Việt Nam.  Công Thành và Lynn tuy không cùng màu da nhưng lại là một đôi uyên ương chim liền cánh, cây liền cành, chàng đâu thiếp đó, xuất hiện rất đều đặn trên các sân khấu đại nhạc hội trong khoảng giữa thập niên 90. Lynn hát nhạc Việt khá đúng giọng, nhưng nếu phải so sánh th́ Dalena phát âm rơ ràng hơn.

Nói về ca sĩ người nước ngoài hát nhạc Việt th́ gần đây tại Montreal bỗng xuất hiện một người đẹp mắt xanh tóc nâu người Gia Nă Đại hát nhạc Việt không thua ǵ Dalena hay Lynn. Nàng phát âm thật đúng giọng, nếu chỉ nghe hát mà không thấy mặt chắc khó có ai đoán được nàng không phải là người Việt Nam. Tên thật của nàng là Valérie Doiron, thông thường khách yêu nhạc chỉ biết đến nàng qua nghệ danh Lily Doiron. Phu quân của nàng là người Việt và có lẽ nhờ thế mà nàng thích ăn bánh tráng chấm ...mắm nêm. Nàng cho biết nàng rất hănh diện được sống trong cộng đồng người Việt và muốn dành giọng hát của nàng cho người Việt. 

Trong mấy năm qua một trong những chuyện nổi đ́nh nổi đám nhất cũng vẫn là chuyện đại nhạc sĩ Phạm Duy trở về sống trên quê  hương sau gần ba mươi năm xa xứ. C̣n nhớ cách đây không lâu chẳng ai dám nghĩ rằng ông sẽ thay đổi lập trường nhanh như vậy. Giữa năm 1985, một giáo sư nổi tiếng trong cộng đồng tị nạn đă viết một bài rất dài về một chiến-sĩ-nhạc-sĩ Phạm Duy kiên cường bất khuất, lúc nào cũng xem cộng sản Hà Nội như kẻ thù không đội trời chung. Thái độ chống cộng quá quyết liệt của Phạm Duy lúc đó khiến vị giáo sư này dám mạnh dạn khẳng định rằng “Hỡi ba tên ngu muội, Phạm Duy đắt giá lắm, cũng như dân tộc Việt Nam đắt giá lắm, không CIA hay Cộng sản nào mua nổi đâu”! Vâng, ở vào thời điểm ấy, không chỉ riêng vị giáo sư khả kính này mà hầu như bất cứ người Việt tị nạn nào cũng đều nghĩ như vậy. Không ai dám tưởng tượng sẽ có một ngày chiến sĩ Phạm Duy phất cờ trắng xin đầu hàng.  Chính v́ thế mà khi nghe tin ông bỏ cuộc trở về đầu phục kẻ thù lắm người không khỏi bàng hoàng. Người trách cũng nhiều nhưng người biểu đồng t́nh cũng không ít. Người chê trách ông nhiều nhất có thể kể đến những người trong thành phần chống cộng cực đoan, quá khích, những người không thích ông v́ một lư do nào đó mà đơn giản nhất là ganh ghét theo kiểu gà ghét tiếng gáy. Những kẻ biểu đồng t́nh th́ có nhiều thái độ khác nhau, có kẻ công khai bênh vực ông, có kẻ chọn thái độ im lặng. Điều này cũng dễ hiểu v́ trong số đó biết đâu mai kia mốt nọ cũng sẽ có người nối bước theo Phạm Duy lên đường về lại quê hương! Việc đại nhạc sĩ Phạm Duy quyết định về nước có lẽ không phải là chuyện đáng bàn căi, v́ có người Việt nào mà không nhớ đến quê cha đất tổ. Nhưng người ta trách là trách chuyện ông tuyên bố vung vít, ca ngợi chính quyền Hà nội, đă thế c̣n nói xấu  những người từng một thời sánh vai với ông trong phong trào chống cộng. Đáng nói nhất là ông đă phủ nhận hết những sáng tác có tính cách chính trị của ông trên bước đường tạm dung. Lư do đơn giản nhất là ai mà tin được một người đă từng viết ra những lời ca chống cộng quyết liệt  như :

 

Ôi cao quí thay

những mẹ già trên đường tị nạn

Dưới mưa phùn hay tuyết lạnh mùa đông

Ở Ba Lê hay ở Nữu Ước

Mẹ đứng chờ gặp quân cướp nước

Để nhổ vào mặt lũ sài lang...”

 

Hay những câu bi thương thống thiết như:

 

Trùng dương nào

đă chia ĺa đôi vợ chồng son

Trùng dương c̣n

thêm cắt ĺa cha mẹ và con

Trùng dương nào hay chế độ nào,

đẩy con người

vô kiếp nghẹn ngào, kiếp xa nhau

.....................

Ở bên nhà em không c̣n đứng đợi chờ anh

Ở bên này anh căm thù lũ cộng tàn hung...”

 

và hơn thế nữa với những câu rất quyết liệt như:

 

Ta chống cộng, ta không trốn cộng

.................

Nuôi hận thù ta nhủ người thương:

Ta phải về, ta chiếm lại cố hương...

 

lại có thể được chính quyền cộng sản chấp nhận cho hồi hương hành nghề cách dễ dàng như thế! Dĩ nhiên khi trở về đầu phục Hà Nội ông phải thề sống thề chết rằng những đứa con tinh thần đó của ông đă được sinh ra trong cơn hoảng loạn sau khi ông bỏ nước ra đi. Nếu ông không thực sự đầu phục những người mà một thời ông muốn nhổ vào mặt họ th́ biết đâu ông đang là một Kinh Kha sang Tần với sứ mệnh hết sức thiêng liêng: Giả dạng hồi chánh để có thể chiến đấu ngay trong ḷng địch, làm đầu cầu chuẩn bị cho ngày tổng tấn công giải phóng quê hương. Để thực hiện ư đồ này, ông phải đóng kịch xin hàng, chịu nhục, chịu nghe chửi bới, chịu nghe người đời nguyền rủa, chịu hết những oan t́nh miễn sao phe bên kia tin ḿnh th́ mới có thể thi hành kế  hoạch nội tuyến như đă định. Nếu đúng như vậy th́ quả thật Phạm Duy vẫn cương quyết chống cộng, nhất định không trốn cộng và đang trở về chiếm lại cố hương như lời ông đă viết trong bài “Ta chống cộng hay ta trốn cộng”.  

Dù sao đi nữa th́  không ai có thể phủ nhận rằng Phạm Duy là một nhạc sĩ – nếu không muốn gọi là nhạc sư – mà tim óc của ông đă góp phần rất lớn để xây dựng nền tân nhạc Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua. Không một nhạc sĩ nào lưu lại dấu ấn trong làng âm nhạc sâu đậm bằng ông. Số lượng và phẩm chất sáng tác của ông vượt trội hơn nhiều nhạc sĩ khác và đó đă là một kho tàng văn nghệ vô cùng quí giá mà ông sẽ lưu lại cho hậu thế.  Trong vườn âm nhạc Việt Nam, ông là cây cổ thụ tuy đă hơn 80 năm đứng trong giông băo vẫn sừng sững vươn những cây cành đầy lá xanh hoa đẹp che bóng mát cho biết bao nhiêu lớp lớp đàn em. Người ta không thể v́ một vài hành động nhất thời của một người mà phủ nhận hết những đóng góp của họ trong suốt một đời.

Tuy nhiên, hành động chối bỏ các tác phẩm chống cộng mà ông viết sau năm 75 quả thật có một cái ǵ không ổn. Nếu phải mang ông ra so sánh với Trịnh Công Sơn  th́ ai đáng khinh hơn ai? Lắm người đă xem Trịnh Công Sơn như kẻ thù khi ngày 30 tháng 4 năm 1975 người nhạc sĩ này ôm đàn vào đài phát thanh Sài G̣n để hát bài “Nối ṿng tay lớn” để tung hô, chúc mừng phe chiến thắng. Rồi người ta lại càng chỉ trích TCS nặng nề hơn khi anh viết những bài ca điển h́nh như “Em c̣n nhớ hay em đă quên” để nhắn gửi đến những người bỏ nước đi t́m tự do rằng việc ra đi của họ không tác động ǵ đến đất nước. Người ta quả quyết rằng TCS có liên hệ đến Hoàng Phủ Ngọc Tường và tay anh đă từng vấy máu người vô tội trong vụ thảm sát Tết Mậu Thân tại Huế. Dù sao đi nữa, Trịnh Công Sơn không hề phủ nhận bất cứ đứa con tinh thần nào của ḿnh dẫu rằng anh vẫn có những bài ca tụng chiến sĩ miền Nam.

Sau khi hồi hương và được giấy phép tổ chức chương tŕnh văn nghệ “Ngày trở về” (2005), đại nhạc sĩ Phạm Duy  đứng trước máy vi âm khẩn thiết xin đồng bào (và cả chánh quyền, dĩ nhiên) “cho tôi lại từ đầu” . Có người ngạc nhiên khi thấy nhạc phẩm Ngựi mẹ Gio Linh của ông được nhà nước cho phổ biến dù rằng bài này đă từng được hát ra rả tại miền Nam trước năm 1975. Thực ra th́ h́nh ảnh người “mẹ” trong bài quá mù mờ, ai muốn hiểu sao th́ hiểu... bà có thể là mẹ của một du kích cộng sản, một kháng chiến quân chống Pháp hay của một anh lính cộng ḥa. Cơ quan kiểm duyệt của miền Nam trước 1975 chắc nghĩ rằng bà mẹ già cuốc đất trồng rau nuôi con đánh giặc đêm ngày ấy không phải là mẹ Việt Cộng cho nên đă không ném bài này vào sọt rác. Nay th́ chính quyền cộng sản lại cho phép tŕnh diễn, thế mới biết miền Nam trước 75 “trong gọng kềm Mỹ Ngụy” dễ dăi đến dường nào! Cũng chính v́ dễ dăi và quá tự tin nên một sĩ quan t́nh báo cao cấp Việt Cộng cỡ Phạm Xuân Ẩn mới trà trộn cho đến ngày cuối cùng của cuộc chiến  mà vẫn không bị phát hiện.

Theo cánh chim đầu đàn Phạm Duy, nhiều ca nhạc sĩ khác đă bay về quê hương, có người chỉ ở tạm một thời gian rồi trở lại Hoa Kỳ nhưng cũng có nhiều người xin được ...tái định cư tại Việt Nam. Một tờ báo điện tử trong nước đă gọi những nghệ sĩ hồi hương là “các ngôi sao đă hoặc chuẩn bị hết thời ở hải ngoại”.  Ca nhạc sĩ Duy Quang về Việt Nam không chỉ để tŕnh diễn mà c̣n để mở pḥng trà “Văn Nghệ”. Anh phát biểu với báo chí tại Việt Nam rằng “Tôi thấy sống ở VN vui hơn, nhiều người lắng nghe ḿnh hơn nhưng sống không dễ hơn. Bên Mỹ người biết nghe ít lắm, họ chú trọng h́nh thức chứ không trọng thực tài. Một trong những cái sung sướng của tôi là có nhiều bạn bè. So với bên Mỹ kiếm tiền ở đây ít hơn nhưng mức sinh hoạt ở VN rẻ gấp mấy lần”.  Anh cho biết từ lâu anh đă có mộng mở một pḥng trà và anh tin rằng ḿnh sẽ thành công v́ hiện nay tại Sài G̣n gần như chỉ có pḥng trà “Không Tên” của Lê Quang là khá nhất. Anh hát với nữ ca sĩ Lê Kiều Như và hai người ra chung một CD lấy tên “Nửa hồn thương đau”.  Người ta kháo nhau rằng tại Hoa Kỳ Duy Quang là một ca sĩ rất kén khi chọn người hát chung và anh chỉ hát chung với các nữ ca sĩ cỡ như Ngọc Lan thôi. Nay anh lại chấp nhận hát chung với Lê Kiều Như th́ cô này ắt hẳn phải là tay có hạng! Nhưng trên thực tế th́ Lê Kiều Như không thể nào so sánh được với Ngọc Lan.

 Cùng với Duy Quang, những ca nhạc sĩ khác về tŕnh diễn tại Việt Nam có Đức Huy, Tùng Giang, Elvis Phương, Tuấn Ngọc, Hương Lan, Giao Linh, Tuấn Vũ, Phi Nhung... Giao Linh và Tuấn Vũ sau lần tŕnh diễn ngoài Bắc đă bị  vài tờ báo trong nước phê b́nh rằng họ hát hay, giọng tốt nhưng “ngoại h́nh già”, đă thế lại không chịu múa may quay cuồng mà cứ đứng một chỗ như chết rồi. Phần lớn các nghệ sĩ hồi hương đều được bà con nhiệt t́nh ủng hộ và h́nh như không có ai biểu t́nh phản đối. Chính quyền cộng sản đă vội vàng chụp lấy cơ hội này và giở giọng giả nhân giả nghĩa rằng trong khi họ mở rộng ṿng tay (?) tiếp đón ca nhạc sĩ từ nước ngoài về th́ tại sao bà con tại hải ngoại lại biểu t́nh chống đối các đoàn văn công của họ! Dựa theo tin tức trong nước, những đại nhạc hội với sự góp mặt của các ca sĩ từ nước ngoài về có giá vé rất cao, nghe đâu có khi lên đến cả triệu đồng (tiền VN) một vé.  Duy Quang vẫn được nhiều khách mộ điệu yêu mến v́ dáng dấp hiền từ nho nhă và giọng hát trầm ấm; Tùng Giang nay đă không c̣n “tôi với trời bơ vơ” v́ tuy tuổi đă ngoài sáu “bó” nhưng anh vẫn có vợ trẻ hơn ḿnh rất nhiều, đă thế nàng c̣n cho anh “nửa tiếng ru trẻ thơ”; Elvis Phương nghe đâu mỗi tháng cũng có được khoảng 10 xuất hát, tiền thù lao từ 5 đến 10 triệu đồng (tiền VN) một xuất. Anh không những chỉ hát tại quê nhà mà c̣n hăng hái tháp tùng đoàn văn công mang chuông đi đấm xứ người trong chương tŕnh Duyên Dáng Việt Nam tại Úc châu. Hương Lan sau khi trở ra hải ngoại đă bị một vài nhóm chống đối nhưng rồi chuyện đâu cũng vào đó; Đức Huy sau khi “hồ hỡi” hát lên câu hát ruột của ḿnh “và con tim đă vui trở lại” đă hăng hái hội nhập vào các sinh hoạt văn nghệ và cũng đă  tŕnh làng một số CD trong đó có CD “Một t́nh yêu” (chung với Lê Quang chủ pḥng trà Không Tên); Tuấn Ngọc th́ cho biết rằng anh không thể nào ở luôn tại Việt Nam v́ c̣n nhiều ràng buộc tại Mỹ và đă tỏ ra rất khôn ngoan khi được phỏng vấn, cố tránh né tất cả những câu hỏi có tính cách dọ dẫm. Khi được hỏi cảm tưởng của anh về một số “siêu sao” tại Việt Nam, anh không khen bất cứ ai và chỉ trả lời chung chung rằng “họ hát rất tốt”(sic) theo đúng ngôn từ “cách mạng” .

Hầu hết các ca nhạc sĩ hải ngoại khi trở về nước người nào cũng t́m cách bày tỏ ḷng “biết ơn” trước sự đón tiếp của bà con trong nước. Không biết họ làm thế v́ ḷng tự nguyện hay v́ có sự khuyến cáo của nhà nước? Có lẽ họ cũng nhận thức được rằng không nên giỡn mặt với chính quyền v́ đă mang thân về đây th́ cũng gần như cá nằm trên thớt. Dù sao th́ người cộng sản cũng có thừa khôn ngoan để không làm ǵ thất lợi cho họ. Dưới mắt họ, các văn nghệ sĩ hồi hương này  là những “đứa con hoang đă t́m về nhà”. Họ biết các nhân vật này là những con c̣ mồi béo bở, dại ǵ mà bỏ qua cho được và nếu họ muốn hạ thủ th́ thiếu ǵ cách ném đá dấu tay.

Có ca nhạc sĩ từ Mỹ về Việt Nam th́ cũng có ca nhạc sĩ từ Việt Nam sang định cư tại Mỹ. Vài tờ báo trong nước gọi hiện tượng này là “sao đổi chỗ” (không phải đổi ngôi). Họ c̣n lớn lối la lên rằng “Nếu ḍng chạy từ hải ngoại về hầu như không làm suy suyển ǵ đời sống ca nhạc trong nước th́ ḍng chảy ngược, dù không c̣n đủ sức mạnh của thời hoàng kim, vẫn làm cho thị trường ca nhạc bên bờ kia chao đảo!” Bằng Kiều, Thu Phương, Trần Thu Hà, Huy MC, Hồng Nhung...là những ca sĩ nằm trong thành phần này. Bằng Kiều trước đây khi c̣n ở Việt Nam mỗi lần sang Mỹ tŕnh diễn đều bị cộng đồng – nhất là cộng đồng tị nạn tại Hoa Thịnh Đốn – biểu t́nh phản đối. Nhưng chống th́ chống, anh vẫn cứ hát và chuyện biểu t́nh chống đối vô t́nh trở thành một h́nh thức quảng cáo không công cho anh. Nói về tài nghệ, anh chưa hẳn là một “siêu sao” như có người nào đó đă xưng tụng. Nhờ vào làn hơi phong phú, giọng sắc, mỏng và cao vút, sở trường của anh phần lớn nằm ở những bài hát có nhiều nốt ở bát độ trên, ngoài ra, anh chưa phải là một ca sĩ thượng thặng. Thu Phương cũng không phải là một giọng ca siêu tuyệt đủ để ca sĩ cũng như khách yêu nhạc tại hải ngoại phải trầm trồ xuưt xoa. Nếu phải nói đến những giọng ca đầy triển vọng tại Việt Nam hiện đang được thính giả hải ngoại yêu mến nhất có lẽ không ai ngoài Quang Dũng,  một ca sĩ trẻ gốc Qui Nhơn. Làn hơi anh bền bĩ, âm vực anh sâu rộng, giọng anh ấm áp không thua ǵ lớp đàn anh Vũ Khanh, Tuấn Ngọc; anh lại khéo chọn những bài nhạc đúng sở trường cho nên chỉ trong một thời gian ngắn anh đă chiếm được nhiều cảm t́nh của người nghe nhạc. Hơn thế nữa, anh c̣n khôn khéo xoay chuyển một cách linh động khi gặp phải những t́nh huống chánh trị khó khăn để không phụ ḷng mong đợi của những người đă đặt nhiều kỳ vọng vào anh.

 Nói về những sáng tác mới trong năm th́ chỉ có bài Bonjour Vietnam của một nhạc sĩ người Bỉ là gây được nhiều tiếng vang nhất. Trớ trêu thay, đây không phải là một bài nhạc Việt nhưng lại được phổ biến rất rộng răi trong các cộng đồng người Việt! Bài này được cả hai phe bên này và bên kia bờ đại dương ca ngợi, có lẽ v́ tính “trung lập” và nét b́nh dị của lời ca. Marc Lavoine đă rất khôn ngoan khi anh tránh không ca ngợi người chiến thắng hay chê bai người bại trận mà chỉ nói đến một Việt Nam với những h́nh ảnh nghèo nàn nhưng rất dễ thương như  đường đất, xóm làng, phiên chợ nổi, chiếc thuyền con trên sông... Anh viết thay lời một người Việt trẻ xa quê hương mong được quay về đất mẹ, vào chùa lạy Phật cầu nguyện thay cho cha và nhớ đến mẹ qua h́nh ảnh của những người đàn bà khom lưng trên cánh đồng xanh.  Lời ca trong sáng đầy ắp t́nh người cộng với giọng hát truyền cảm của Phạm Quỳnh Anh, một thiếu nữ gốc Việt thuộc thế hệ thứ hai, đă đưa bài Bonjour Vietnam của Marc Lavoine vượt qua những bức tường chính trị để ngân sâu vào ḷng người những thanh âm rất mới.

Phong trào thơ phổ nhạc trong những năm gần đây cũng trở nên xôm tụ hơn v́ số nhà thơ tại hải ngoại càng ngày càng nhiều. Có bài phổ rất thành công nhưng cũng có rất nhiều bài chẳng đi đến đâu. Có bài khi vừa nghe thính giả có thể nhận ra ngay đó là một bài thơ, nhưng cũng có những bài nhờ vào cách phổ khéo léo đầy tài nghệ của nhạc sĩ mà trở thành một nhạc phẩm đơn thuần với lời ca (trong nước dùng hai chữ  Hán Việt “ca từ”)  thật đẹp và đầy vần điệu. Thơ Việt ngữ vốn dĩ đă giàu âm vận, lắm bài chứa đầy nhạc tính - “thi trung hữu nhạc” - và những bài nhạc hay của nước ta bài nào cũng có lời hát hay như một bài thơ.

Nói về thơ phổ nhạc th́ trong làng âm nhạc Việt Nam không ai không biết Phạm Duy là bậc thầy trong lănh vực này. Lại cũng Phạm Duy! Ông dịch nhạc ngoại quốc sang lời Việt đă tài t́nh mà chuyển thơ thành nhạc lại càng tài t́nh hơn. Nếu không có Phạm Duy, có lẽ  lắm người không biết ai là Nguyễn Tất Nhiên, Vũ Hữu Định, Phạm Thiên Thư...và khá nhiều các thi sĩ khác. Đầu thập niên 70, thanh niên miền Nam đă xúc động đến độ bàng hoàng khi nghe nhạc phẩm Kỷ Vật Cho Em. Xưa nay người ta vẫn nghĩ Linh Phương là tác giả bài thơ “Kỷ Vật Cho Em” mà Phạm Duy chọn để phổ nhạc, nhưng nay lại có người quả  quyết rằng tác giả bài thơ bất hủ này chính là Nguyễn Đức Nghị, một chuẩn úy Nhảy Dù. Theo tài liệu của Bùi Đức Lạc và Uyển Diễm(Radio Bolsa) th́ chuẩn úy Nghị xuất thân khóa 26 Trường Bộ Binh Thủ Đức. Sau khi ra trường anh về nắm trung đội trưởng trung đội 1, đại đội 72, tiểu đoàn 7 Nhảy Dù. Một lần khi tiễn người yêu lên xe đ̣ về Sài G̣n, nàng hỏi bao giờ anh về th́ anh trả lời rằng “mai mốt anh về”. Sau khi nàng về, đêm hôm đó anh đă ngồi viết lên những ḍng thơ hết sức  đơn sơ nhưng rất đỗi bi hùng như sau:

 

KỶ VẬT

Em hỏi anh bao giờ trở lại

Xin trả lời mai mốt anh về

Anh trở về không bằng Mũ Đỏ Áo Hoa

Anh trở về không bằng huy chương chiến thắng

Anh trở về trong chiều hoang chiếu nắng

Trong ḥm gỗ hoặc trên chiếc băng ca

Anh trở về nằm giữa ṿng hoa

Những ṿng hoa tang chan ḥa nước mắt

Anh gửi về cho em vài kỷ vật

Đây chiếc nón sắt xuyên mấy lỗ đạn thù

Nó đă từng che nắng che mưa

Đă từng hứng cho anh giọt nước

Chiều dừng quân nơi địa đầu lạnh buốt

Nấu vội vàng trong đó nắm cơm khô

Anh gửi cho em một tấm poncho

Đă rách nát theo h́nh hài năm tháng

Lều dă chiến trên đồi hoang cháy nắng

Che cơn mưa gió lạnh buổi giao mùa

Làm chiếc vơng nằm, nh́n đời lính đong đưa

Và...khi anh chết cũng poncho tẩm liệm

Nay anh gửi cho em làm kỷ niệm

Nhận không em chút t́nh lính này đây

T́nh lính đơn sơ v́ chinh chiến kéo dài

Nhưng t́nh lính chỉ nhạt phai

Khi h́nh hài và con tim biến thể.

 

Cũng theo tài liệu của Bùi Đức Lạc và Uyển Diễm th́ người chiến-sĩ-thi-sĩ Nhảy Dù ấy đă tử trận năm 1969 tại mật khu Bời Lời. Anh chết đi nhưng bài thơ “Kỷ Vật” đă trở nên bất tử khi được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc. Có phải chuẩn úy Nghị là tác giả đích thực của bài thơ này hay không, xin nhường lại cho thi sĩ Linh Phương và các nhà phê b́nh nghiên cứu văn học thẩm định, nhưng nếu dựa vào nguyên văn bài thơ như đă ghi lại ở trên th́ nhạc sĩ Phạm Duy đă sửa và thêm bớt khá nhiều. Bài thơ phản chiến này trên căn bản đă là tiếng hờn  bi thiết nhưng  chỉ đến khi được bàn tay phù thủy âm thanh của Phạm Duy chuyển sang thành nhạc  th́ nó mới làm thính giả miền Nam mà đa số là giới trẻ xúc động mănh liệt.

    Với tài phổ nhạc phi thường ấy Phạm Duy  đă chắp cánh cho thơ và tên tuổi của nhà thơ bay cao hơn, và đồng thời, những bài thơ đầy nhạc tính đó cũng đă thêm thanh âm cho tên tuổi Phạm Duy vang vọng hơn. Nhiều nhạc sĩ khác cũng soạn nhạc từ thơ, nhưng số lượng không nhiều bằng Phạm Duy. Nhạc sĩ Giáp văn Thạch đă đưa bài thơ Quê Hương của Đỗ Trung Quân lên chót vót trên đỉnh nghệ thuật. Không một khách ly hương nào khi nghe bài này qua tiếng hát mê hồn của ca sĩ thượng thặng Thanh Tuyền mà chẳng chạnh ḷng thương quê nhớ nước. Nhạc sĩ Lê Dinh có lúc đă từng phổ nhạc thơ của Thanh Hải Vô Thượng Sư, và phổ rất hay! Có người đă đặt câu hỏi không hiểu ông khám phá ra thơ bà Thanh Hải rồi cảm hứng mà soạn thành nhạc hay các đệ tử của bà đă liên lạc và thuyết phục ông.

Gần như không có nhạc sĩ nào không có ít nhất là một nhạc phẩm phổ hay phỏng từ thơ người khác. Có khi nhạc sĩ giữ nguyên lời thơ, chỉ sửa lại vài chữ cho hợp với thanh âm nhưng cũng có khi người soạn nhạc chỉ lấy ư hoặc vài câu rất ngắn của bài thơ. Một thí dụ điển h́nh là nhạc phẩm “Buồn” của cố nhạc sĩ Y Vân.  Ngoại trừ  ba  câu “Buồn như ly rượu cạn, không c̣n rượu cho say ... Buồn như ly rượu đầy...” mượn từ bài thơ “Buồn như” của nhà thơ Tạ Kư trong thi tập Sầu Ở Lại, tất cả lời hát c̣n lại hoàn toàn không giống với bất cứ đoạn nào của bài thơ. Tại hải ngoại một số nhạc sĩ có nhạc phổ hay phỏng từ thơ rất thành công như Vũ Thành An, Vơ Tá Hân, Phan văn Hưng, Vĩnh Điện, Mai Anh Việt, Phan Ni Tấn,  Đỗ Kim Bảng, Hiếu Anh (đă qua đời), Nguyên Bích (bác sĩ), Trần Lăng Minh ... Các thi sĩ tại hải ngoại có thơ được phổ nhạc nhiều nhất trước hết có thể kể đến Du Tử Lê, Hà Huyền Chi, Đynh Trầm Ca (thi sĩ kiêm nhạc sĩ). Ít hơn th́ có Thái Tú Hạp, Hoàng Khởi Phong, Huy Tưởng, Nguyễn Xuân Thiệp, Phong Vũ, thi-họa-y-sĩ Mùi Quí Bồng (thân phụ của nữ phóng viên Washington Post Ylan Q. Mui), Ngô Tịnh Yên, Phạm Ngọc...và rất nhiều thi sĩ tài danh khác mà phạm vi bài này không thể nào kể hết.

Nói đến thơ, trong thập niên qua nhiều thi sĩ hải ngoại trong những chuyến về thăm quê hương đă mướn người ngâm và ghi âm vào CD. Ḷ ngâm thơ và thu âm của Bảo Cường nhờ thế mà kiếm được một số lợi nhuận đáng kể. Lệ phí ngâm và thu một CD nghe đâu không dưới 300 đô. Dược sĩ kiêm thi sĩ Trần văn Hích có vài chục CD ngâm thơ do ḷ Bảo Cường thực hiện được bày bán chung với thuốc men tại nhà thuốc tây của ông ở Montreal. 

Hiện nay con số nhạc sĩ Việt Nam tại hải ngoại tuy không nhiều bằng quốc nội nhưng cũng không phải là nhỏ. Không kể những nhạc sĩ đă nổi tiếng trước 75 như Nguyễn Túc, Nguyễn Đức Quang, Xuân Lôi (vừa qua đời), Xuân Tiên, Nhật Ngân, Anh Bằng, Lê Minh Đảo (tướng Lê Minh Đảo trước khi là tướng lănh đă từng là ca sĩ và nhạc sĩ), Lê Dinh, Phạm Mạnh Cương, Trần Trịnh, Ngô Thụy Miên, Nam Lộc, Từ Công Phụng,... những tên tuổi khác như Trúc Hồ, Trúc Sinh, Hà Thúc Sinh (tác giả trường thiên Đại Học Máu), Minh Duy, Phạm Anh Dũng(bác sĩ), Trần Quảng Nam, Phan Ni Tấn, Diệu Hương, Đặng Hữu Hiếu, Hoàng Kim Chi (nhóm Nhạc Việt Minnesota), Linh Phương, Vũ Thư Nguyên (bác sĩ), Hiếu Anh (đă qua đời), Châu Đ́nh An, Hoàng Trọng Thụy, Lê Xuân Trường, Trần Chí Phúc, Khúc Lan... Nhạc sĩ Minh Duy, hiện đang dịnh cư tại Úc,  trước 75 chính là tác giả của nhạc phẩm “Bài Ca Chiến Thắng”, một hùng ca rất nổi tiếng trong giới văn nghệ chính huấn. Riêng về các ca nhạc sĩ thuộc phong trào hưng ca, hùng ca, du ca, dân chủ ca, tranh đấu ca th́ có Nguyễn Đức Quang, cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, Phan Văn Hưng, Nguyễn văn Thành (Dân Chủ Ca), Lê Đ́nh Điểu, Anh Việt Thu, Trần Tú, Việt Dzũng, Nguyệt Ánh, Nguyễn Hữu Nghĩa, cố nhạc sĩ Lư văn Chương, Nguyễn Quyết Thắng, Giang Châu, Trần Đ́nh Quân,  Nguyễn Thiện Cơ, Lê Quang Dũng, Nguyễn Văn Phiên, Vơ Thị Xuân Đào.... Cũng xin được nhắc lại nữ ca sĩ Julie (“cựu” Julie Quang) trước 1975 là một khuôn mặt khá quen thuộc trên sân khấu du ca. Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, con chim đầu đàn của phong trào du ca, nay tuy đă lớn tuổi nhưng vẫn thường xuyên ôm đàn đi hát khắp nơi. Nguyễn Hữu Nghĩa đă từng có mặt trong phong trào du ca tại miền Nam đầu thập niên 70 nhưng tại hải ngoại chỉ được biết đến nhiều nhất sau vụ chạm trán với Nguyễn Ngọc Ngạn qua cuốn băng h́nh Thúy Nga PBN 40. Ngoài ra phải kể đến một số nghệ sĩ nghiệp dư tay bút tay đàn như Lă Mộng Thường, Hàn Sĩ Nguyên, Huy Văn, Miên Du Đà-Lạt, Huỳnh Bá Mạch, Nguyễn Đăng Tuấn, Nguyễn Thiện Doăn, Nhược Thu, Sông Cửu, Vũ Hoài Mỹ,  Dương Viết Điền, Nghiêu Minh, Hà Lan Phương... Tất cả những tên tuổi kể trên trong thời gian qua đă đóng góp rất nhiều công sức cho nền âm nhạc Việt Nam hải ngoại.

 Sáng tác mới th́ nhiều nhưng mỗi nhạc sĩ chỉ có chừng một vài bản được xem như là tuyệt phẩm, ngoài ra số c̣n lại cũng chỉ “thường thường bậc trung”, không nổi lắm.  Diệu Hương được bà con biết đến nhiều nhất qua hai bài V́ đó là emPhiến đá sầu. Cô sáng tác và hát luôn nhạc của ḿnh. Các nhạc sĩ Từ Công Phụng, Vũ Thành An... cũng tự hát nhạc của họ nhưng nghe không “phê” bằng ca sĩ chuyên nghiệp cho dù họ chính là người đă thai nghén và khai sinh những lời ca tiếng nhạc đó. Trần Quảng Nam – người gốc Quảng nhưng có giọng rất Bắc – th́ chừng như chỉ có độc nhất bài Mười năm t́nh cũ là được khách mộ điệu thích nhất. Việt Dzũng, Nguyệt Ánh,  Mai Anh Việt, Mai Đức Vinh... và nhiều nhạc sĩ  khác cũng nằm trong trường hợp tương tự.  Hiện trạng này không chỉ riêng trong giới nhạc sĩ mới mà ngay cả trong giới nhạc sĩ kỳ cựu cũng thế.  Ngoại trừ các nhạc sĩ đă nằm xuống như Trầm Tử Thiêng, Duy Khánh, Nhật Trường, những nhạc sĩ thuộc lớp đàn anh cũng không có tác phẩm mới nào vượt trội hơn những tác phẩm họ viết trong thời chiến. “Xuân này con về mẹ ở đâu” của Nhật Ngân với giọng hát  ngọt ngào êm ái của ca sĩ “mặt-sữa” Quang Lê tuy gây được nhiều cảm xúc nhưng vẫn không che nổi hào quang của “Xuân này con không về”. Có phải v́ quít Giang Nam kỵ Giang Bắc hay v́ đất khô, cây gần cỗi nên hoa cũng kém tươi?

Bước tiến nhảy vọt của khoa học kỹ thuật trong mười năm qua đă giúp ích rất nhiều cho các ca nhạc sĩ hay những ai muốn trở thành ca nhạc sĩ thực hiện ước mơ của họ . Máy in laser, máy vi tính cùng nhiều nhu liệu kư âm giúp các nhạc sĩ soạn và in ra giấy đẹp hơn nhạc của Tinh Hoa Miền Nam trước đây rất nhiều. Thêm vào đó, máy móc “Karaoke”  mỗi lúc một tinh vi hơn đă giúp cho làng nhạc Việt nẩy sinh thêm nhiều mầm non văn nghệ mới. Số ca nhạc sĩ nghiệp dư mỗi ngày một nhiều và đất dụng vơ chính yếu của họ là hệ thống liên mạng toàn cầu. Nhiều trang web chứa nhạc của hàng trăm nhạc sĩ nghiệp dư cộng với lời ca tiếng hát của không biết bao nhiêu là ca sĩ mầm non.  Nói là mầm non văn nghệ nhưng có lắm người hát không thua ǵ ca sĩ  chuyên nghiệp. Phải chăng đă đến lúc mấy ông bà bầu gánh thử canh tân bằng cách săn t́m trên Internet để tuyển lựa nhạc phẩm mới và ca sĩ mới? Cả một nguồn tài nguyên âm nhạc hùng hậu như vậy mà bỏ qua th́ thật là đáng tiếc.

Nói về tài năng mới, mấy năm gần đây vùng trời âm nhạc Hoa Thịnh Đốn bỗng xuất hiện nhiều ngôi sao sáng mà một trong những ngôi sao ấy chính là nam ca sĩ Đặng Thế Luân. Trong một cuộc thi tuyển lựa ca sĩ  phỏng theo mô h́nh “American Idol” của Mỹ do ông bầu Hoài Phong tổ chức năm 2003, Đặng Thế Luân đứng hàng thứ sáu, sau các thí sinh Kim Phượng, Vĩnh Phú, Ngọc Thủy, Đàm Hữu Duy, Thái Mộng Trinh. Điều đáng nói là tuy đứng hạng thấp nhưng hiện nay tên tuổi anh lại nổi bật hơn cả những người có hạng cao hơn. Đến khi anh xuất hiện trên băng h́nh Asia 50 dưới chủ đề Nhật Trường Trần Thiện Thanh “Anh Không Chết Đâu Anh” th́ anh đă thực sự bước một bước khá dài. Tiếp theo, anh xuất hiện trong cuốn Asia 51 “T́nh Khúc Sau Cuộc Chiến” với  liên khúc “Em c̣n nhớ mùa Xuân” được khán thính giả nhiệt liệt tán thưởng. Tuy nhiên, tiếc thay album “T́m nhau trong kỷ niệm” của anh và nữ ca sĩ Băng Tâm đă không đạt được kết quả mong muốn, có thể v́ nhiều lư do mà trong đó sự lựa chọn bài hát đóng một vai tṛ then chốt. Dù sao th́ Đặng Thế Luân cũng đă tự  tạo cho ḿnh một chỗ đứng vững chắc trong làng âm nhạc Việt Nam hải ngoại.

Các nữ ca sĩ mới được nhiều cảm t́nh của thính giả có thể kể đến Thùy Dương, Hồng Trúc, Mộng Thi, Hà Phương, Minh Tuyết... Giọng hát Thùy Dương hơi đục như tiếng ru mùa đông ấm nồng da diết; Hồng Trúc chuyên trị các loại nhạc mà Trường Vũ, Chế Linh hay hát, nghe nàng hát người ta có cảm tưởng như nghe  một nàng thôn nữ dịu hiền duyên dáng đang thỏ thẻ với người yêu. Nàng có nhiều album hát chung với Trường Vũ và Lâm Gia Minh; Mộng Thi (bạn học của Minh Tuyết) cũng rất thành công với  loại nhạc này. Hai chị em Minh Tuyết, Hà Phưong sau khi ra hải ngoại đă hợp tác với Thúy Nga và tạo được cho ḿnh một chỗ đứng vững vàng trong làng tân nhạc với một số album hát riêng hay hát chung với Bằng Kiều. Album “Bởi v́ anh yêu em” của Minh Tuyết và Bằng Kiều có h́nh b́a trông rất ư là t́nh tứ lăng mạn.

Tại quê nhà, con số nhạc sĩ, ca sĩ  trong những năm vừa qua cũng ào ào tăng vọt như nấm mọc lên sau cơn mưa. Các nhạc sĩ Trần Hiếu, Trần Tiến, Phú Quang, Nguyễn Cường, Hoài An (trùng tên với tác giả nhạc phẩm “Câu chuyện đầu năm” nổi tiếng trước 75) là những nhạc sĩ có chỗ đứng vững vàng với nhiều nhạc phẩm được thính giả ưa chuộng. Về phía ca sĩ, không kể các nam thanh nữ tú được liệt vào hàng “siêu sao” như Ngọc Sơn, Quang Dũng, Lam Trường, Đan Trường, Mỹ Tâm, Đức Tuấn, Đàm Vĩnh Hưng “Mr. Dam”(!), Cẩm Ly, Thanh Thảo, Trần Thu Hà... c̣n có cả khối ca sĩ khác mà danh tánh có thể viết đến hàng chục trang giấy vẫn chưa hết. Dù sao th́ cũng xin được ghi ra một số tên tuổi như Siu Black, Ưng Hoàng Phúc, Lư Hải, Phương Thảo, Thanh Thủy, Thanh Lam, Khánh Ngọc, Điền Thái Toàn, Lam Hùng, Lam Vũ, Hồ Lệ Thu, Hồ Quỳnh Hương, Nhất Tinh Anh, Nghi Văn, Đăng Khôi, An Khang, Hoàng Hải, Tuấn Hưng, Quang Thắng, Đoan Trang, Thu Thủy, Phương Uyên, Hồ Hoài Anh,  Lưu Hương Giang, Hiền Thục, Tăng Nhật Tuệ, Đoàn Phi, Lê Hiếu, Minh Quân ... Nữ ca sĩ gốc dân tộc thiểu số Siu Black tuy tuổi đời đă gần bốn mươi và thân thể khá đẫy đà nhưng khi hát lại “quậy” không thua ǵ lớp ca sĩ trẻ tuổi hơn. Cô là ca sĩ “ruột” của nhạc sĩ Nguyễn Cường, thường hát nhiều bản nhạc viết về Tây nguyên. Một số báo chí trong nước khi viết về cô đă gọi tiếng hát của cô là “tiếng hát dậy lửa”, nghe cứ như những văn công hát nhạc tuyên truyền trong thời chiến. Cô cũng đă từng xuất ngoại lưu diễn và gặt hái được ít nhiều thành quả đáng kể. Hoàng Hải, được xưng tụng là “hoàng tử V-pop”, có giọng hát và phong cách hao hao Bằng Kiều cho nên có lúc từng được Bằng Kiều vỗ vai khích lệ “muốn được bằng anh th́ cần cố gắng nhiều hơn nữa”. Chàng ca sĩ trẻ này vừa bị một cú ê mặt v́ không thuộc bài hát đến nỗi phải dán mắt vào bản nhạc đặt trên giá trước mặt. Đây thật là một điều ít khi nào xảy ra trên sân khấu, thế nên chẳng có ǵ đáng ngạc nhiên sau khi anh hát xong cả thính pḥng im phăng phắc không một tiếng vỗ tay!

 Nhiều ca sĩ khác không đứng riêng rẻ mà nhập lại thành nhóm như nhóm A,C&M, Mắt Ngọc, Mây Trắng, Năm Ḍng Kẻ...Một số ca sĩ có lẽ v́ muốn nổi như minh tinh màn bạc Hồng Kông (hay v́ dựa theo khuynh hướng thần phục Trung Cộng  của nhà nước ?) cho nên đă lấy những nghệ danh hết sức Kim Dung chi bảo như Vân Quang Long, Nhất Tinh Anh... Tương lai họ có trở thành “siêu sao” như các tài tử Hồng Kông hay không xin nhường lại cho khán thính giả thẩm định.

  Kế đến cũng xin được ghi nhận vài nét về cung cách tŕnh diễn của một số ca sĩ trẻ tại Việt Nam (trong số có nhiều người đă nhập cảnh Hoa Kỳ). Phần lớn các ca sĩ mà nhiều nhất là nam ca sĩ đều có một kiểu giống nhau. Họ kê ống vi âm gần sát vào miệng và những khi cao hứng thường làm giống như nới lỏng nó ra rồi nhanh tay chụp lại. Có lẽ họ cũng muốn ném nó lên rồi đưa tay ra bắt như các đầu bếp biểu diễn hất đồ ăn trong chảo nhưng e rằng chụp hụt th́ ê mặt lắm! Gần như người nào cũng hét nhiều hơn là hát, và chuyện uốn giọng nhấn nhá lên xuống ở những nốt có trường độ dài là chuyện rất b́nh thường, nếu không muốn nói là có tính cách thời thượng. Cứ nghe Thu Phương hát Thu Quyến Rũ th́ sẽ nhận ra điều này ngay. Nàng hát “Em mong chờ mùa thu...ú..thú...u...” Nhiều bài khác cũng được nàng hát uốn éo tương tự như thế, nghe chói chang và nhức nhối làm sao! Chắc các ca sĩ này nghĩ rằng nếu không cương như vậy th́ sẽ không ai thấy tài nghệ cao siêu của họ dù rằng những nốt họ uốn lên éo xuống chỉ là một nốt đơn độc trên khuông nhạc, không có nốt láy kèm theo. Trong đời thường, khi nói chuyện, họ thích dùng những tiếng ngoại ngữ như “show”, “fan”..dù rằng kho tàng chữ Việt vẫn có những tiếng tương đương. Ngoại trừ dăm ba trường hợp ngoại lệ như của Quang Dũng hay Ngọc Sơn chẳng hạn, một vài ca sĩ nghĩ ḿnh là “siêu sao” như Đàm Vĩnh Hưng lại c̣n đâm ra kiêu ngạo, khinh thường cả các ca sĩ đàn anh đàn chị. Làn hơi tiếng hát của Đàm Vĩnh Hưng cũng không có ǵ là vượt bậc thế mà không hiểu tại sao anh lại có thái độ kiêu căng! Hoặc giả người nào đó có ác ư đă xuyên tạc, bóp méo sự thật để bôi nhọ anh chăng? Đàm Vĩnh Hưng có thừa khôn ngoan để hiểu rằng kiêu căng là cách tự đào hố chôn ḿnh nhanh nhất. Nổi tiếng như ban nhạc Tứ Quái ngày xưa mà cũng c̣n bị xất bất xang bang chỉ v́ những lời tuyên bố ngông nghênh huống hồ ǵ chút tài mọn như của Đàm Vĩnh Hưng.

Người nước ngoài khi nghe nhạc Việt mà nhất là nhạc trước năm 1975 thường hỏi sao nhạc nước ta nghe buồn buồn làm sao ấy!  Họ có biết đâu đất nước ta v́ trải qua quá nhiều chinh chiến phân ly cho nên phần lớn nhạc Việt trước năm 1975 không có bao nhiêu những bài nhạc vui mà trái lại phần lớn chỉ là những bài nhạc với âm điệu và nội dung rất bi thương. Đề tài sáng tác nhạc tại Việt Nam trong khoảng giữa thế kỷ hai mươi thường xoay quanh t́nh yêu ngang trái, thân phận con người trong cuộc chiến, những tang tóc, đổ vỡ gây ra từ chiến cuộc, những cay đắng thiệt tḥi của người dân nhược tiểu...Nhiều nhất và đa dạng nhất vẫn là những bài nói về t́nh yêu đôi lứa. Nhạc thuộc loại này đa số đều mang âm hưởng buồn nhẹ nhàng man mác và được viết dưới nhiều chủ đề khác nhau.  Đây là loại nhạc mà sau 1975 người ta gọi là nhạc vàng để phân biệt với nhạc xanh, nhạc đỏ. Boléro, Ballad và Rhumba là những tiết điệu được dùng đến nhiều nhất cho các bài nhạc thuộc thể loại này và đây đồng thời cũng là những tiết điệu thịnh hành nhất trong khoảng từ cuối thập niên năm mươi đến những năm đầu bảy mươi. Cũng trong thời điểm này, nhiều nhạc phẩm vô cùng sướt mướt mà giá trị văn học nghệ thuật không mấy cao được ồ ạt tung ra thị trường, với nhiều bài nghe rất bi thương, nức nở, nghẹn ngào. Lời hát trong những bài nhạc thuộc loại này nếu không  ước ǵ nhà ḿnh chung vách  th́ cũng  tại anh đó nên duyên ḿnh dở dang...”. Nội dung bài hát khai thác những éo le ngang trái của t́nh yêu, chàng nghèo, nàng giàu hay ngược lại, chàng yêu nàng tha thiết nhưng rồi v́ hoàn cảnh nàng phải đi lấy chồng khác;  chàng phụ nàng v́  “con ong đă rơ đường đi lối về”, hay chàng mất nàng v́ nàng thuộc ḍng dơi quí phái mà chàng th́ nghèo rớt mồng tơi, vân vân. Nhờ đặc tính dễ nghe, dễ nhớ và dễ hát theo nên những bài hát này rất phổ biến trong giới b́nh dân và có lẽ v́ thế nên được gán thêm danh hiệu “nhạc sến”. Từ ngữ “sến” bắt nguồn từ chữ “con sen” mà giai cấp thượng lưu dùng để gọi người hầu kẻ hạ hay những người ở đợ (“con ở”). “Sen” đọc trại thành “sến” và v́ đại đa số những cô gái này thường làm việc cho Tây, me Tây hoặc những gia đ́nh phong lưu theo Tây học nên c̣n được gọi là “Marie Sến”. Danh xưng này lưu truyền tại miền Bắc trong khoảng đầu thế kỷ hai mươi khi đất nước c̣n nằm trong tay đô hộ của thực dân Pháp và sau 1954 theo chân người di cư vào miền Nam. Tại miền Nam “Marie Sến” c̣n được gọi là  “Marie phông-tên”, có lẽ v́ mấy nàng làm nghề giúp việc nhà thường đi gánh nước hay giặt giũ rửa ráy chung quanh các máy nước  công cộng. Dù giai đoạn phong hầu kiến địa đă qua đi nhưng giai cấp thượng lưu vẫn tiếp tục sử dụng hai chữ “con sen” để gọi người giúp việc nhà. Điều đáng buồn là khi nghe hai chữ “sen” hay “sến” người ta liên tưởng ngay đến những kẻ thất học, cùng khổ, hạ cấp.  Nước ta vào thời ấy v́ quá nghèo đói nên tỉ lệ thất học rất cao. Trong t́nh huống như vậy, những người không được đi học không phải v́ họ không muốn đi học mà v́ không được học. Họ là những kẻ đáng thương hơn đáng khinh và thật không có ǵ sai lầm hơn khi người có học thức lại đi khinh bỉ những kẻ không được đi học như ḿnh. May thay, bước vào kỷ nguyên mới và nhất là ở những nước tiên tiến, người ta không c̣n khinh những nghề lao động chân tay như làm vệ sinh hay rửa chén quét nhà v́ có rất nhiều ông bà lớn cũng từng trải qua giai đoạn ấy. Trong lănh vực sân khấu kịch trường cũng thế. Ngày xưa, người ta khinh bỉ giới cầm ca là “xướng ca vô loại”. Ngày nay, ca sĩ, nhạc sĩ, minh tinh màn bạc... được xă hội trọng đăi chứ không ai c̣n dám miệt thị họ nữa.  Tài tử Mỹ sống sang trọng c̣n hơn ông hoàng bà chúa. Ấy là chưa nói đến có lắm người bỏ không biết bao nhiêu tiền của th́ giờ để theo chân các nghệ sĩ nổi tiếng, cốt chỉ để xin được chữ kư hay chụp chung vài tấm h́nh lưu niệm.

Trở lại với loại nhạc mà người ta gọi là nhạc...”sến”.  Không cần phải nói ai cũng biết Giang Tử, Chế Linh, Vinh Sử là những ca nhạc sĩ chuyên trị loại nhạc này. Giọng ca Giang Tử nghe rất ướt át, anh rên rỉ tối đa trong khi giọng Chế Linh dù sao nghe cũng  đỡ áo năo hơn. Cứ tưởng tượng chàng hay nàng bị t́nh phụ rồi ngồi dưới mái dột trong một buổi chiều mưa mà nghe hai ông này hát th́ chắc chỉ muốn tự tử mà chết phức cho rồi! Đây không phải là chuyện giả tưởng đâu nhé! Trong mục “chó cán xe, xe cán chó”, “từ thành đến tỉnh” trên các mặt báo phát hành tại Sài g̣n thời ấy không thiếu ǵ những tin tự tử v́ t́nh. Có một dạo ca sĩ Chế Linh đă bị cấm hát cũng chỉ v́ người ta sợ anh sẽ làm suy nhược tinh thần chiến đấu của dân quân miền Nam, như thể tiếng sáo Trương Lương ngày xưa đă làm cho địch quân tự động tan hàng.

Chiến tranh, nghèo đói, tai trời ách nước đă cướp của dân ta rất nhiều phương tiện sáng tạo và có lẽ cũng v́ thế mà dù dân ta có hơn 4000 năm văn hiến nhưng các tác phẩm văn học nghệ thuật của người Việt không được bao nhiêu người trên thế giới biết đến. Âm nhạc Việt Nam cũng đồng chung số phận. Làm sao giải thích được khi tiếng nói của người Việt với hơn mười lăm ngàn âm là một trong các tiếng nói giàu âm sắc nhất trên thế giới nhưng nhạc của ta chỉ giới hạn trong phạm vi quốc gia, họa hoằn lắm mới có vài bài được dịch ra nhiều thứ tiếng. Đành rằng nhạc Việt cốt chỉ dành cho người Việt thưởng thức và khi các nhạc sĩ ngồi viết  nhạc có ai nghĩ rằng nhạc của họ sẽ được các dân tộc khác nghe và hát đâu! Nhưng thế th́ tại sao nhạc của Âu, Mỹ, Hoa, Nhật lại được nhiều nước trên thế giới thưởng thức dù rằng tiếng nói của họ không nhiều âm bằng tiếng nước ta?  Người viết bài này không dám có thái độ trịch thượng, dám khinh thường văn hóa dân tộc  mà chỉ muốn lặp lại  một niềm ray rứt triền miên không phải của riêng cá nhân ai mà là của tất cả những người con Việt muốn thấy Việt Nam thực sự là quê hương ngạo nghễ chứ không chỉ ngạo nghễ bằng những lời nói suông.       

  Hiện nay khó ai biết được ḍng nhạc trong nước sẽ trôi về đâu. Âm nhạc từ ngh́n xưa đă là nhu cầu bức thiết của loài người. Nhạc gắn liền với ḍng định mệnh của mỗi dân tộc. Nhạc bắc cầu cho người đến với người. Nhạc phản ảnh được tâm trạng và đời sống của con người trong từng giai đoạn của đất nước. Hơn thế nữa, nhạc c̣n thể hiện được phần nào quốc hồn quốc túy của một quốc gia. Chiến tranh đă tàn hơn 30 năm và Việt Nam được xem như đang trên đà đi tới. Đất nước đi lên th́ đời sống nhân dân cũng phải thay đổi, nhất định không thể xấu hơn nếu nhà cầm quyền tự cho rằng đường lối lănh đạo của họ là ưu việt. Cuộc sống vật chất của người dân nếu được cải thiện sẽ tác động trực tiếp đến tinh thần và yếu tố này dĩ nhiên sẽ ảnh hưởng đến đường hướng sáng tác nhạc của thế hệ đương thời. Ḍng nhạc khởi đi từ hoàn cảnh mới với nhiều nét lạc quan nhất định phải giàu âm điệu hơn, tươi vui hơn, trẻ trung hơn, phong phú hơn và mang nhiều giá trị nghệ thuật hơn. Thế nhưng dựa theo nhiều thông tin trong cũng như ngoài nước th́ ḍng nhạc Việt quốc nội hiện nay đang gần như bế tắc với những vấn nạn như người điều khiển chương tŕnh (MC) mỗi ngày một hiếm, các “liveshow” theo lời một kư giả viết từ trong nước th́ “...Ít nhất, một liveshow cũng ngốn đến tiền trăm triệu cho đến tiền tỉ nhưng tính ra chưa có bất cứ một liveshow nào thực sự tạo được ấn tượng sâu cho khán giả. Tính trên tổng thể của cả một chương tŕnh, h́nh ảnh sân khấu đang ngày càng trở nên bế tắc khi không có sự sáng tạo mới. Xem 10 liveshow, khán giả dễ bắt gặp những ư tưởng sân khấu bị trùng lặp một cách buồn cười. Mặc dù, trước khi làm chương tŕnh, nhà tổ chức nào cũng tuyên bố sẽ có những mô h́nh mới, một sân khấu gây bất ngờ, một liveshow hoàn hảo những xét trên mặt bằng chung, trong nước chưa có một chương tŕnh nào thực sự khiến người xem hài ḷng (Huyền Vũ) ”. Ngoại trừ vài bài tiêu biểu của Vơ Thiện Thanh, Vơ Đông Điền, nhiều nhạc sĩ ca sĩ trẻ khác đua nhau tŕnh làng hàng ngàn nhạc phẩm mới nhưng phần lớn cũng chỉ xoay quanh chuyện yêu đương, giận hờn vu vơ, ghen tuông vớ vẩn với những lời ca hết sức nghèo nàn, đơn điệu đại loại như “em sẽ là người ra đi” hay “anh không muốn làm người thứ ba”, “em măi là người đến sau”, “bao giờ em mới nói chia tay” ...vân vân.

  Nay đă lỡ tri tân th́ không thể không ôn cố để biết sự khác biệt giữa lời ca của nhạc mới và nhạc cũ như thế nào. Những nhạc phẩm trước năm 1975 (ngoại trừ những bài sặc mùi tuyên truyền của miền Bắc ) nhiều bản có lời hay như một áng thơ, đầy đặn từ ư nghĩ cho đến cách hành văn. Ngay cả nhạc thuộc loại “nhạc vàng” như bài “Căn nhà màu tím” mà lời ca cũng hết sức thơ mộng và đầy ư nghĩa. Xin được trích một đoạn của bài hát này để thấy lời ca đẹp và thơ mộng như thế nào:

T́nh em cao vút Trường Sơn

gặp anh em ước mong hơn.

Cho anh bông hồng c̣n thắm,

cho anh trái ngọt vườn cấm,

và c̣n cho nửa tiếng ru trẻ thơ.

 

Nẻo đời muôn vạn lối,

yêu nhau v́ lời nói,

mến nhau qua nụ cười.

Dặn ḍ thêm lần cuối,

sách trao cho bầy em,

lưu bút ghi vài đứa quen.

Ngày lành hăm sáu,

 hai mươi chiếc xe màu

chở đám cưới cô dâu

cài hoa trắng trên đầu.

Ta nh́n nhau,

tia mắt trao

một nụ hôn ban đầu ...! 

 

  Tác giả viết nhạc mà cứ như làm thơ. Những chữ cuối câu ông đều giữ vận cho bài hát được liền lạc, taọ nên một bố cục hài ḥa chặt chẽ. Nhờ có chất thơ, lời hát thấm nhanh vào hồn người như men rượu mạnh, dễ cảm, dễ say.  Đă thế, ông c̣n vẽ lên bức tranh t́nh yêu tuyệt đẹp với lời lẽ đơn sơ nhưng vô cùng ư nhị “Cho anh bông hồng c̣n thắm, cho anh trái ngọt vườn cấm, và c̣n cho nửa tiếng ru trẻ thơ”. Chỉ trong ba câu hát rất ngắn này là cả một tâm t́nh hiến dâng và là một tiến tŕnh của hạnh phúc lứa đôi qua đủ ba giai đoạn.

  Nhạc viết dưới chủ đề t́nh tự quê hương cũng có rất nhiều bài mà lời hát tuy đơn sơ nhưng đẹp như bức tranh quê và thấm đẫm t́nh yêu đất nước. Tác phẩm “Hoa vẫn nở trên đường quê hương” của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ là một thí dụ điển h́nh:

 

Lời em ca êm như tiếng suối

Lời thơ anh vang như thác núi

Và mắt em, và áo em

Ngát xanh như mạ non quê ta

Bàn chân em đi gieo lúa mới

Bàn chân anh đi thêm nắng mới

Về lối xa, về phố hoa

Quét cho tàn khổ đau trong ta

 

Hoa vẫn nở trên đường quê hương

Ôi quê hương ta đó

Dù bóng đêm đang gieo kinh hoàng

Dù mái tranh bơ vơ điêu tàn

Từng cánh hoa, từng cánh hoa

Hoa vẫn nở trong đêm mù sương

Hoa vẫn nở trên đường quê hương”

 

  Lời ca có đủ chiều rộng, chiều sâu, đủ những yếu tố tượng h́nh, tượng thanh,  tương đồng, dị biệt. Chất liệu của lời ca lấy ngay từ nhũng sự vật trong đời thường, mạ non, mái tranh, phố, mù sương, xác người, sông nước, và đặc biệt và nhiều nhất là những cánh hoa. Nhạc chưa trỗi lên mà lời đă nghe vang vọng âm thanh qua êm ái suối reo, ầm ầm thác đổ. Khi nhạc trỗi lên th́ chập chùng trong sóng nhạc là h́nh ảnh thân yêu của một quê hương đau thương nhưng vẫn đầy sức sống, trong bóng đen vô vọng vẫn lấp lánh niềm tin v́ trên hoang tàn đổ nát, hoa vẫn nở.     

  Nhạc “thời thượng” trong nước hiện nay rất hiếm những bài với lời ca mang ít nhiều giá trị văn học như vậy. Đă thế lại c̣n có nhũng vụ “chôm” nhạc,  “đạo” nhạc. Nhạc sĩ Bảo Chấn và Đàm Vĩnh Hưng là những trường hợp điển h́nh. Bảo Chấn có lúc đă bị mang tai tiếng v́ âm điệu bản “T́nh thôi xót xa” của ông có nhiều điểm trùng hợp với bản “Frontier” của nữ nhạc sĩ Nhật Keiko Matsui. Hiện nay Bảo Chấn đă có mặt tại Hoa Kỳ với chiếu khán làm việc 3 năm. Đàm Vĩnh Hưng bị phạt vạ v́ “chôm” nhạc Trúc Sinh. Ngay cả nhạc sĩ Trần Tiến cũng vay mượn từ Trịnh Công Sơn khi ông viết  một nhạc phẩm với tựa đề “Mưa trên tháp cổ” Lâu lâu người yêu nhạc lại nghe được một bài nào đó với hơi hướm có vẻ không phải nhạc Việt nhưng lại mang lời Việt. Chịu khó t́m hiểu th́ biết ấy là nhạc nước ngoài được dịch sang tiếng Việt, nhưng tiếc thay người ta chẳng biết v́ vô t́nh hay cố ư đă không nhắc đến xuất xứ! Thế có phải v́ giới làm văn nghệ chỉ được phép đi theo đường hướng mà nhà nước đă vạch ra cho nên không dám khai thác đề tài nào khác hơn? Hay v́ những người thuộc thế hệ trước – giai cấp lănh đạo – đang lạc vào đường cùng nên thế hệ sau cũng bí lối, tâm linh tắc nghẽn, tư duy cạn kiệt, đề tài khan hiếm để rồi cứ cho ra đời những đứa con tinh thần èo uột không làm giàu thêm được chút nào cho gia sản văn học nghệ thuật của dân tộc? Dù sao th́ cũng xin thưa rằng đây chỉ là ư kiến riêng của người viết bài này v́ trên thực tế một số nhạc phẩm mới hiện đang lưu hành trong và ngoài nước vẫn được một số bà con tại hải ngoại – nhất là giới trẻ – ưa chuộng.

  Riêng tại nước ngoài, thế hệ của những “người di tản buồn” hiện đang nhuốm vàng trong ánh mùa thu. Mùa thu nào cũng đẹp lộng lẫy huy hoàng nhưng tiếc thay nó chỉ báo hiệu cho mùa đông băng giá! C̣n bao nhiêu năm nữa để nhạc của những nhạc sĩ thuộc thế hệ của Phạm Duy, Nhật Ngân, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Lê Minh Bằng, Tú Nhi ...vẫn được đón nhận như ngày hôm nay? Và c̣n được bao nhiêu ngày để tiếng hát của các ca sĩ thuộc thế hệ của những Thanh Tuyền, Lệ Thu, Phương Dung, Kim Anh, Tuấn Ngọc, Vũ Khanh, Khánh Hà, Ư Lan, Ái Vân, Elvis Phương... vẫn được người nghe đợi chờ thưởng thức? Sẽ c̣n được bao nhiêu người thuộc thế hệ thứ hai vẫn yêu chuộng ḍng nhạc như thế hệ cha anh của họ đă trân trọng, nâng niu? Và đến thế hệ thứ ba, thứ tư th́  nhạc Việt tại hải ngoại sẽ chuyển hướng về đâu?

    Chỉ mong sao sẽ có một ngày giông băo qua đi và đàn chim Việt lại từ khắp bốn phương trời rủ nhau bay về bầu trời Việt Nam thân yêu, trên đôi cánh chở đầy nắng gió tuyết sương và hoa thơm cỏ lạ góp nhặt từ khắp nơi trên toàn thế giới. Người yêu nhạc sẽ không c̣n ngồi “khóc một ḍng sông” nữa v́ ḍng nhạc tha hương ngày nào nay đă vượt trùng dương chảy về đất mẹ và chở theo không biết bao nhiêu phù sa hồng tươi như thịt da thiếu nữ xuân th́,  hợp lưu cùng ḍng nhạc trong nước để tưới mát và vun bồi cho đất mẹ quê cha. Với tiềm năng dồi dào của dân tộc cùng vô số tinh hoa gom góp từ năm châu bốn biển trải qua bao nhiêu thế hệ, nhạc Việt lúc ấy nhất định không chỉ phổ biến hạn chế trong phạm vi nội địa mà sẽ lan đến nhiều quốc gia khác và được người nước ngoài nhiệt t́nh đón nhận như ta đă từng đón nhận nhạc của họ. Ngày ấy chắc chắn sẽ đến, sớm hay muộn cũng sẽ đến v́ người xưa há đă chẳng phán rằng  “quan nhất thời, dân vạn đại” đấy sao!

 

Song Lang 

cuối năm 2006

Một cựu học sinh Mạc Đĩnh Chi