Năm Heo nói chuyện heo

 



Lợn, heo, là gia súc thân cận và thân thiết với người, nhất là con người thôn dă Việt Nam, từ vài ba ngàn năm nay, nhưng ít xuất hiện trong văn thơ, nghệ thuật. Nó tham dự thường xuyên vào văn hóa loài người, nhưng không đi vào biểu tượng, có lẽ v́ h́nh dáng và lối sống lè tè, « không nghệ thuật », không thuận theo những quy ước trong tâm thức cộng đồng. Cảnh Lợn Đàn hay Lợn ăn cây Dáy trong nghệ thuật dân gian Việt nam, tranh Đông Hồ, là một biệt lệ.
Trong trí nhớ của tôi, câu thơ về lợn, hay và tha thiết nhất có lẽ là của Nguyễn Khuyến trong thơ gửi bạn :


Ai lên nhắn hỏi bác Châu Cầu
Lụt lội năm nay bác ở đâu ?
Mấy ổ lợn con rày lớn bé,
Vài gian nếp cái ngập nông sâu ?

Lời thơ ân cần, đằm thắm, chân thật và chân t́nh. Thật ở những lo lắng cho nhau, thiết thân trong sinh hoạt bấp bênh ở nông thôn trước thiên tai. Và t́nh ở niềm tưởng nhớ, vừa thực tế vừa vu vơ. Hỏi « bác ở đâu » là v́ vắng nhau, nhớ nhau chứ không phải v́ không biết. Hỏi « lớn bé, nông sâu » không phải là thắc mắc thật sự, mà chỉ bày tỏ không gian và thời gian nhung nhớ.
Về mặt đối ngẫu : đem « con » đối « cái » là tuyệt vời. (Cũng có người cho rằng Nguyễn Khuyến chế giễu bạn Bùi văn Quế, người Châu Cầu, huyện Thanh Liêm, Hà Nam, là địa phương chuyên nuôi lợn sề, bán lợn con, và nấu rượu,
trữ nếp cái. Nhưng chắc không đúng).
Trong thơ Nguyễn Khuyến c̣n có thịt lợn ngày ông Lên Lăo :

Anh em hàng xóm xin mời cả
Xôi bánh trâu heo cũng gọi là

Và đặc biệt ngày Tết :

Trong nhà rộn rịp gói bánh chưng
Ngoài cửa bi bô rủ chung thịt

Ở thôn quê ngày áp tết nhiều nhà chung tiền mua, rồi chia nhau một con lợn ; hàng xóm nghèo cũng được một phần nhỏ, có khi là phần mỡ bạc nhạc. Nhưng nhà nào ngày Tết cũng có chút thịt để thực hiện câu ca dao :

Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
Nêu cao pháo nổ bánh chưng xanh

Đoàn văn Cừ ( 1913-2004) tả mâm giỗ ngày Tết

Thịt lợn đầy mâm thái miếng to

Tục chia thịt ở nông thôn ta chỉ là một công việc thực dụng, không nghe nói đến nội dung tượng trưng nào, như tục giết lợn ở Âu châu, mùa đông chung quanh ngày Tết dương lịch ; phong tục này có tính cách tế sinh, vừa nghi thức vừa cuồng bạo, một truyền thống mang nhiều ư nghĩa tiềm ẩn mà giới phân tâm học đang quan tâm.

Nguyễn Khuyến c̣n có câu đối nổi tiếng, làm cho một hàng thịt lợn :

Tứ thời bát tiết canh chung thủy
Ngạn liễu đôi bồ dục điểm trang

Dịch nôm :

Bốn mùa tám tiết ḷng chung thủy
Bờ liễu non bồ dục điểm trang.

Bồ và liễu là tên cây, họ dương, tượng trưng cho người phụ nữ thướt tha, yểu điệu. Đặc sắc là câu đối chữ Hán mà lại có được « bát tiết canh » đối với « đôi bầu dục » áp dụng cho hàng thịt lợn. Câu dịch nôm như trên chỉ làm lếu láo chiếu lệ, dù cố « vớt vát » cũng không sánh được với cách chơi chữ tài t́nh của Nguyễn Khuyến

Trong phong tục ngày Tết, con lợn đóng vai tṛ thiết yếu, như qua câu đố về cái bánh chưng :


Ruộng xanh mà trồng đỗ xanh
Trồng nếp trồng hành, rồi thả lợn vô

Hay nhất trong câu là từ « ruộng », chữ Hán là « điền », h́nh vuông vắn và chia tư như cái bánh chưng xanh mướt.

Thịt mỡ đi với dưa hành, v́ hành làm tiêu chất mỡ ; do đó dân gian có câu :

Con gà tục tác lá chanh
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi
Con chó khóc đứng khóc ngồi
Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng

Lợn sống gần gũi với người, chuồng lợn thường tiếp giáp với chái bếp, để tiện bề chăn sóc. Lợn là nguồn lợi của gia đ́nh, là nhiệm vụ của người phụ nữ, nên có câu ca dao đùa vui dí dỏm :

Đương khi lửa tắt cơm sôi
Lợn kêu con khóc, chồng đ̣i ṭm tem !
Bây giờ lửa đă nhóm lên,
Lợn no con ngủ ṭm tem th́ ṭm.

Và có tục ngữ :

Gái không biết nuôi heo là gái nhác
Trai không biết nuộc lạt là trai hư

Lại c̣n ca dao :
Nuôi lợn th́ phải vớt bèo,
Cưới vợ th́ phải nộp cheo cho làng.

Nữ sĩ Anh Thơ (1921-2005) trong Bức tranh Quê (1941) khi tả cảnh sáng sớm trong một gia đ́nh nông thôn, đă kết hợp lợn với bèo:

Người dậy cả, bà già lần thổi bếp,
Thằng cu con dụi mắt quét quàng sân.
Cùng trong lúc gà lồng kêu chiếp chiếp
Và lợn chuồng ủn ỉn dục cho ăn

Bên ao nước, bèo chen rau muống nổi,
Mẹ và con xắn váy cúi khom, và
Người vớt bèo, người khều rau, hái vội,
V́ trên đường lên chợ đă người qua.

Con lợn khi sống, th́ gần gũi với người phụ nữ, khi chết c̣n đóng góp vào hạnh phúc lứa đôi, qua hôn lễ :


…Mai mốt lấy chồng, anh sẽ giúp cho :
Giúp em một thúng xôi ṿ
Một con lợn béo, một ṿ rượu tăm,
Giúp em đôi chiếu em nằm
Đôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo…

Do đó không cứ ǵ ở Việt Nam mà c̣n trên nhiều nền văn hóa khác, lợn cũng đóng vai tṛ quan trọng. Từ điển Robert Văn Hóa, 2005, đánh giá : vai tṛ này là quan trọng hàng đầu trong đời sống xă hội, trước khi nông nghiệp được cơ giới hóa tại Âu châu. Tại Trung Quốc, chữ « gia » là nhà hội ư từ chữ « thỉ » là heo, đội một mái ngang, là bộ « miên ». Không nên hiểu đơn giản, là người Tàu ngày xưa đồng hóa ngôi nhà với chuồng lợn ; nhưng nhất định là có tương quan giữa con lợn và văn hóa loài người, trong thực tế và trong tâm thức.

Nhưng dường ngày xưa lợn được thả rong. Phùng khắc Khoan, 1528-1613, đă ghi lại trong Đào Nguyên Hành làm giữa thế kỷ 16 :

Trâu, ḅ, gà,, lợn, dê, ngan,
Đầy lũ đầy đàn rong thả khắp nơi

Các nơi khác cũng vậy thôi. Trong Quốc văn giáo khoa thư, 1926, tôi vẫn nhớ bài tập đọc lớp Tư mang tên Truyện ngươi Thừa Cung, chăn lợn và hiếu học, cứ mỗi khi lùa lợn qua tràng, có tiếng giảng sách, th́ đứng lại nghe. Về sau được thầy cho học, trở nên học tṛ giỏi và nổi tiếng. Ở Pháp, lợn được thả rong tại ngay thủ dô Paris, cho đến năm 1131, gây tai nạn lưu thông, làm thiệt mạng con vua Louis le Gros mới bị cấm. Ở Hy Lạp thời thượng cổ, theo trường ca Odyssée của Homère, lợn được nuôi đại tràng và thả rong. Nhà thơ Nhất Uyên đă diễn ca trọn bộ 12110 câu :

Mười hai dăy trại cao nền
(…) Năm mươi lợn nái nằm dài chờ sinh
Lợn nọc chăn dắt ra đồng
Ba trăm sáu chục lợn con chạy cùng
Trong sân năm sáu chó săn
Dăm người phụ trại lo ăn, quét chuồng

Đoạn thơ nhắc lại truyền thuyết nàng Circé, phù thủy tóc vàng, có bùa phép biến hóa người thành lợn. Truyền thuyết chứng tỏ người và lợn thời đó sống thân cận nhau.
*
Tuy nhiên, ngay thật mà nói th́ con lợn, con heo, không phải là một h́nh tượng văn học thông thường ; muốn t́m ắt phải có, nhưng phải cố công, chứ tự nhiên th́ ít ai nhớ.

Con lợn đă xuất hiện rất sớm, từ những bài thơ quốc âm đầu tiên, như của Nguyễn Trăi :

Dài hàm, nhọn mũi, cứng lông,
Được dưỡng v́ chưng có thửa dùng

Ư nói : nuôi chẳng qua chỉ để ăn thịt

Tiện chẳng hay bề biến hóa

Đào Duy Anh giải thích : con lợn là giống bần tiện, chỉ nằm mà ăn, không biết biến hóa. Ưng hay oan ? Nguyễn Trăi có ư ấy không ?

Trương hai con mắt, lại xem rồng.

Vẫn một lối giải thích : tuy lợn không biết biến hóa, nhưng người ta dùng thủ lợn luộc để cúng thần, th́ nó lại trương hai con mắt, « thao láo như mắt lợn luộc » mà nh́n rồng trên bàn thờ thần, là loại giỏi biến hóa.

Đây là một bài thơ bát cú nhưng thiếu câu sáu nên chúng tôi không trích toàn văn. Cặp 3, 4 cầu kỳ :

Lỗi ḥa đàn, tinh Bắc Đẩu
Lang một điểm, thụy Liêu đông

Trần văn Giáp giải thích : theo sách Tạp trở, đời Đường có vị thiền sư Nhất Hàng giỏi thuật số, muốn cứu một can phạm, đă bầy mưu : xem vườn nào có nuôi giống vật ǵ có bảy con th́ bắt cả về. Người tù bắt được một ổ lợn mang đến. Nhất Hàng nhốt cả bảy con vào một cái ống rồi bịt lại. Thế là cḥm sao Bắc Đẩu không mọc. Vua lo sợ vời đến vấn kế. Nhất Hàng khuyên nên làm đại xá. Vua nghe theo và người tù được tha. Nhất Hàng thả lợn ra, Bắc đẩu lại mọc. Câu sau có nghĩa : ở Liêu Đông hiếm có lợn lang đầu, nên được xem là « thụy », nghĩa là điềm lành, có người mang lên dâng vua. Đi đến Hà Đông, thấy đầy cả lợn lang đầu, bèn thẹn và lui về.

Điển cố cầu kỳ như vậy, tác giả dù uyên bác như Nguyễn Trăi, e cũng phải vắt óc mới t́m ra chứ không phải đến tự nhiên như khi tả cây chuối, lá chuối :

T́nh thư một bức phong c̣n kín
Gió nơi đâu gượng mở xem

Nói khác đi và nôm na : tả con lợn th́ dù cho đến Ức Trai có khi cũng phải bí ! Ngoài việc tả lợn ăn ngủ, đẻ đái, khó c̣n chuyện ǵ khác để làm thơ. V́ như vậy, trong thơ văn ít thấy lợn.


Nhà thơ Ngô văn Phú, bậc chánh tổng trong làng thơ thôn dă, trong ba bốn trăm bài thơ tả làng mạc, chỉ một lần tả con « lợn ủn ỉn » nhưng là ở một « chợ ven đê » (1984). Huy Cận --hay cả Phùng Cung-- tả rất kỹ cảnh thôn dă với nhiều gia súc mà không hề đụng đến con heo. Có lẽ do thành kiến ăn sâu vào tiềm thức, như Đào Duy Anh đă giải thích : « Lợn là giống bần tiện, chỉ nằm mà ăn không biết biến hóa », không lao động, không săn bắt như mèo chó, không bươi chải như gà vịt. Chưa kể lợn c̣n vô kỷ luật qua câu tục ngữ « lợn ở trong chuồng, thả ra mà đuổi » ; lợn sổng chuồng th́ khó mà bắt lại. Đă vậy, ngày nay lợn c̣n chịu thêm tiếng thị phi , là diễn phim kích dâm,
hủ hóa.

Lợn có đóng góp thân xác cho đời, âu cũng là việc tiêu cực ngoài ư chí. Tóm lại lợn là con vật phi Khổng phi Mao, phi Lê phi Mác. Nó ủn ỉn bên ngoài sử quan, và tiếng ủn ỉn không hy vọng ǵ trở thành biện chứng.
*
Đối chiếu như vậy để biết trân trọng tấc ḷng của dân gian Việt Nam đă tôn vinh con lợn qua tranh Gà Lợn bằng nghệ thuật Đông Hồ, hay c̣n rải rác trong tranh Kim Hoàng, Nam Đàn hoặc vài nơi khác. Thơ Hoàng Cầm :

Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong,
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp.

Tranh dân gian, trong tính cách b́nh dị của nó, khó nói được là cao siêu. Riêng tranh Lợn Đàn, Lợn ăn cây dáy, có nét đặc sắc. Những nghệ nhân vô danh đă thấu hiểu triệt để và sâu sắc đề tài, tính chất con lợn, địa vị của nó trong đời sống người dân tầm thường, lam lũ. Lợn lên tranh là giống lợn ỷ, mặt ngắn, có nhiều nếp nhăn, lưng vơng, chân thấp. Sống lưng lợn mẹ được tô đậm màu đỏ da cam, lún phún lông mọc nghiêng. Theo kinh nghiệm nông dân con lợn nào có lông « đai » như vậy là tốt giống, mạnh ăn, béo khỏe, mắn đẻ và đông con. Lũ lợn lúc nào cũng đang ăn, no căng, bụ bẫm, dáng dấp phủ phê, mặt mày phè phỡn, nụ cười tủm tỉm đầy nhân tính, có khi ranh mănh, lẳng lơ. Vẽ ra con lợn, nghệ nhân phác họa thế giới của ḿnh, tâm cảnh lồng vào ngoại cảnh , từ những lam lũ gieo neo vươn tới giấc mơ no ấm, sum vầy đông đúc. Trên thân h́nh mập mạp, lợn mẹ lợn con đều mang hai ṿng tṛn xoáy âm dương. Công dụng là trang trí cho thân h́nh đơn điệu, nhưng đồng thời cũng tượng trưng cho khoáy lông, tướng lợn, biểu hiện cách điệu qua một nét vẽ siêu h́nh ; ṿng âm dương mở rộng hạnh phúc con người chan ḥa với niềm vui trời đất, trong lẽ tuần hoàn vô thủy vô chung.

*
Tranh gà lợn Đông Hồ là một nét đặc biệt của nghệ thuật Việt Nam, không biết đặt vào đâu trong những ḍng văn hóa địa phương hay thế giới. Ngày xưa, trên một lưỡi giáo Đông Sơn đào được ở Sơn Tây 1927, có hai con thú châu đầu vào nhau : một con cọp, và một con heo nhỏ hơn, mập mạp, chân thấp. Di chỉ nàycó thể là hiện vật có từ một, hai thế kỷ trước Tây lịch. Nhưng đây là một mô h́nh biệt lập chứng tỏ quan hệ xa xưa giữa Việt tộc và loài lợn, nhưng không liên quan ǵ đến tranh Đông Hồ.

Nghệ thuật Đông Hồ đă gợi ư cho nhiều bài thơ, đặc sắc nhất có lẽ là bài của Vũ Hoàng Chương (1915-1976) làm vào ngày tết Bính Th́n 1976.

Vịnh tranh gà lợn
Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành
Gà lợn om ṣm rối bức tranh
Rằng vách có tai, thơ có họa
Biết ḷng ai đỏ, mắt ai xanh ?
Mắt gà huynh đệ bao lần quáng
Ḷng lợn âm dương một tấc thành
Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn
Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh

Lời lẽ đơn giản nhưng tế nhị, súc tích và uyên bác. Tác giả dùng nhiều tục ngữ, ca dao, điển cố. Câu đầu vịn vào thành ngữ « tranh tối tranh sáng » là lời phá đề tài t́nh cho một bài thơ …. tranh. Câu sau « om ṣm » lấy lại ư thơ Tú Xương « om ṣm trên vách bức tranh gà ». Câu thứ ba dựa theo thành ngữ « dừng có mạch vách có tai », và chữ « họa » mang ba nội hàm khác nhau: xướng họa, hội họa, và nhất là… tai họa. Tiếp theo là thành ngữ « xanh vỏ đỏ ḷng » và « mắt xanh » chỉ vào những con mắt tinh đời, có khả năng đánh giá đúng. Câu năm nhắc đến thành ngữ « mắt quáng gà » nh́n không rơ, và ca dao : « gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau ». « Lợn âm dương » là tên tranh Đông Hồ. Thơ Hoàng Cầm : Mẹ con đàn lợn âm dương/chia ĺa đôi ngă. Đoạn cuối « cục tác, ủn ỉn » lấy từ câu ca dao đă nhắc ở đoạn trên. Chữ « rồng » ở câu kết đánh dấu năm Th́n đang tới, sẽ là mùa xuân cuối cùng của thi nhân,và « tân thanh » là tên truyện Kiều, cắt bớt hai chữ « đoạn trường » đau đớn.
Dĩ nhiên là bài thơ c̣n u uẩn nhiều ngụ ư và u uất nhiều tâm sự, chúng tôi không b́nh giải nơi đây, nhường cái thú ấy cho người đọc ngày xuân.

Người ta thường cho rằng kẻ sinh năm Hợi là tốt số, sống thong thả và sung túc, có lẽ là do cảnh sống của con lợn. Nó c̣n là một h́nh ảnh một thanh b́nh. Không nghe nói lợn tham dự vào cuộc chiến nào, hay có được thành tích nào hiển hách. Nhưng có một lần, đâu đó, nhà bác học Pháp Buffon, thế kỷ 18, cho rằng các làn sóng Hồi giáo không xâm nhập được vào Trung quốc là v́ con lợn, chính xác hơn là thịt lợn. Lịch sử Trung hoa nhờ miếng thịt lợn không cần một trận Poitiers nào cả.

Heo, lợn là sinh vật đáng thương đáng quư. Duyên phận của nó, là đem sinh mệnh của chính ḿnh làm khoái trá cho kẻ khác.

Trên đời c̣n có định mệnh nào bi thiết và cao cả hơn ?.

Tết Đinh Hợi,